TS. Nguyễn Danh Nam - Trường Đại học Thành Đông

Email: namnd@thanhdong.edu.vn

Tóm tắt

Nghiên cứu nhằm mục đích đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến gian lận kế toán tại các doanh nghiệp sản xuất trên địa bàn tỉnh Hải Dương. Thông qua các kiểm định độ tin cậy, phân tích nhân tố khám phá, phân tích tương quan và hồi quy tuyến tính trên phần mềm SPSS26, kết quả cho thấy, Khó khăn tài chính và Sự bất cân xứng về thông tin là hai yếu tố có ảnh hưởng chiều dương đến yếu tố phụ thuộc trong khi Hiệu quả kiểm soát nội bộ; Đạo đức nghề nghiệp; Tính phù hợp của hệ thống bồi thường và Tuân thủ các nguyên tắc kế toán là các yếu tố có ảnh hưởng ngược chiều đến gian lận kế toán tại các doanh nghiệp sản xuất. Dựa trên kết quả nghiên cứu, một số hàm ý quản trị được gợi mở nhằm hoàn thiện cơ chế kiểm soát nội bộ, nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật, hạn chế gian lận kế toán trong doanh nghiệp.

Từ khóa: Gian lận kế toán, doanh nghiệp sản xuất, tỉnh Hải Dương

Abstract: The study aims to assess the factors influencing accounting fraud in manufacturing enterprises in Hai Duong province. Using reliability tests, exploratory factor analysis (EFA), correlation analysis, and linear regression analysis conducted with SPSS26 software, the findings reveal that financial difficulties and information asymmetry have a positive impact on accounting fraud. In contrast, internal control effectiveness, professional ethics, the appropriateness of the compensation system, and compliance with accounting principles exhibit a negative impact on accounting fraud within manufacturing enterprises. Based on these findings, several managerial implications are proposed to enhance internal control mechanisms, strengthen legal compliance awareness, and mitigate accounting fraud in businesses.

Keywords: Accounting fraud; Manufacturing enterprises; Hai Duong province.

ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo báo cáo khảo sát tội phạm kinh tế và gian lận toàn cầu của PwC, tỷ lệ gian lận kế toán chiếm hơn 22%. Những hành vi này, dù xuất phát từ động cơ cá nhân hay áp lực tổ chức, đều có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng, làm sai lệch thông tin tài chính, ảnh hưởng tiêu cực đến quyết định của nhà đầu tư, gây bất ổn cho môi trường kinh doanh và làm suy giảm niềm tin vào hệ thống kiểm toán – kế toán.

Tại tỉnh Hải Dương, một trong những trung tâm công nghiệp lớn của khu vực phía Bắc, nơi tập trung nhiều doanh nghiệp sản xuất với quy mô đa dạng, từ doanh nghiệp nhỏ và vừa đến các tập đoàn lớn, vấn đề gian lận kế toán càng trở nên đáng quan ngại. Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng khốc liệt và những biến động khó lường của nền kinh tế, các doanh nghiệp sản xuất tại đây phải đối mặt với nhiều áp lực, từ việc duy trì hiệu quả kinh doanh, tối ưu hóa chi phí, đến việc tuân thủ các quy định pháp lý trong khi vẫn phải đảm bảo lợi ích của các bên liên quan. Những áp lực này có thể dẫn đến nguy cơ gia tăng gian lận kế toán, khi các doanh nghiệp hoặc cá nhân trong tổ chức tìm cách điều chỉnh số liệu tài chính để đạt được mục tiêu ngắn hạn. Đặc biệt, với đặc thù ngành sản xuất liên quan đến chi phí sản xuất cao, quy trình kế toán phức tạp và sự phụ thuộc vào chuỗi cung ứng, nguy cơ gian lận kế toán tại các doanh nghiệp sản xuất có thể biểu hiện dưới nhiều hình thức, từ khai khống doanh thu, che giấu chi phí, lập báo cáo tài chính sai lệch, đến gian lận trong quản lý hàng tồn kho. Những gian lận này không chỉ gây thiệt hại cho chính doanh nghiệp mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến sự minh bạch và ổn định của toàn bộ hệ thống kinh tế. Xuất phát từ thực tế đó, nghiên cứu nhằm đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến gian lận kế toán tại các doanh nghiệp sản xuất trên địa bàn tỉnh Hải Dương, qua đó gợi mở các hàm ý quản trị giúp hoàn thiện cơ chế kiểm soát nội bộ, nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật và hạn chế gian lận kế toán trong doanh nghiệp.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT

Gian lận kế toán là một vấn đề nghiêm trọng trong lĩnh vực tài chính – kế toán, khi các cá nhân hoặc tổ chức cố tình thao túng số liệu nhằm tạo ra thông tin tài chính sai lệch. Đây không chỉ đơn thuần là những sai sót trong quá trình hạch toán, mà là hành vi có chủ đích nhằm đạt được lợi ích bất chính, có thể là tăng lợi nhuận ảo, che giấu nợ hoặc điều chỉnh số liệu để tránh nghĩa vụ thuế. Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 240 của Bộ tài chính (2014) gian lận là hành vi cố ý của một hay nhiều người trong doanh nghiệp thực hiện gian dối để thu lợi bất chính qua việc ghi chép, báo cáo tài chính không trung thực hoặc đánh lừa với các thông tin giả mạo, bị điều chỉnh hoặc che dấu. SEC (2019) cho rằng gian lận kế toán xảy ra khi doanh nghiệp hoặc cá nhân cố tình trình bày sai lệch thông tin trong báo cáo tài chính nhằm đánh lừa nhà đầu tư và các bên liên quan, vi phạm các nguyên tắc trung thực và minh bạch, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự minh bạch của thị trường tài chính. Theo quan điểm đó, Tổ chức Chuẩn mực Kiểm toán Quốc tế Theo IAASB (2020) định nghĩa gian lận kế toán là hành vi cố ý do một hoặc nhiều cá nhân trong ban quản lý, nhân viên hoặc bên thứ ba thực hiện nhằm bóp méo thông tin tài chính, dẫn đến sai lệch báo cáo tài chính hoặc chiếm đoạt tài sản một cách không hợp pháp. Theo Hiệp hội Điều tra Gian lận Hoa Kỳ ACFE (2022) gian lận kế toán là một hành vi cố ý sai lệch và che dấu thông tin tài chính nhằm đánh lừa các bên liên quan, qua việc thổi phồng doanh thu, che giấu các khoản nợ, định giá tài sản không chính xác hoặc thực hiện các thủ thuật khác để tạo ra lợi thế không chính đáng. Các nghiên cứu của Rezaee (2005), Wells (2011) cho thấy gian lận kế toán không chỉ xuất phát từ áp lực tài chính mà còn liên quan đến sự yếu kém trong hệ thống kiểm soát nội bộ, thiếu hiệu quả của quy trình kiểm toán và các khoảng trống trong quy định pháp lý thường bị thúc đẩy bởi động cơ thuộc cá nhân hoặc tổ chức nhằm đạt được lợi ích tài chính ngắn hạn, gây ra hậu quả dài hạn nghiêm trọng cho doanh nghiệp và nền kinh tế.

Trong những năm gần đây, đã có một số nghiên cứu về gian lận kế toán được các tác giả trong và ngoài nước thực hiện được tổng hợp tại Bảng 1.

Bảng 1: Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước về lĩnh vực gian lận kế toán

Tên tác giả

Các yếu tố ảnh hưởng

Nghiên cứu nước ngoài

Zulkarnain, R. M. (2013)

Hiệu quả kiểm soát nội bộ, hệ thống bồi thường, văn hóa doanh nghiệp, đạo đức nhà quản lý và phong cách lãnh đạo

Mohamed, M. (2014)

Áp lực về nghiệp vụ thuế, kết nối chính trị, hệ thống bồi thường, khó khăn tài chính, sự có mặt của các nhà đầu tư, quyền sở hữu gia đình, giới tính và tiền sử gian lận

Irwandi, S. (2017)

Hệ thống kiểm soát nội bộ, tính phù hợp của hệ thống bồi thường, thông tin bất cân xứng, tính tuân thủ nguyên tắc kế toán, đạo đức nhà lãnh đạo

Purnomo, Y., Khafid, M. (2017)

Hệ thống kiểm soát nội bộ, sự phù hợp của chế độ đãi ngộ, mức độ tuân thủ các quy tắc kế toán, hành vi phi đạo đức

Nghiên cứu trong nước

Ngô Thị Linh và Nguyễn Thị Thu Hiền (2021)

Khó khăn về tài chính, bất cân xứng thông tin, tuân thủ nguyên tắc kế toán, hiệu quả kiểm soát nội bộ, đạo đức nhà quản lý, tính phù hợp của hệ thống bồi thường

Trần Thế Nữ và Lê Ngọc Anh (2024)

Hiệu quả kiểm soát nội bộ, bất cân xứng thông tin, tính phù hợp của hệ thống bồi thường, tuân thủ nguyên tắc kế toán, đạo đức nhà quản lý, khó khăn tài chính

Bùi Thị Vân Anh (2024)

Đạo đức nghề nghiệp; năng lực nghề nghiệp; chế độ, chính sách của Nhà nước, của hội nghề nghiệp; hệ thống kiểm soát nội bộ; ứng dụng công nghệ thông tin, sức ép bất thường lên doanh nghiệp

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

Trên cơ sở lý thuyết và tổng quan các tài liệu nghiên cứu liên quan đến chủ đề gian lận kế toán, qua quan sát thực tế kết hợp thảo luận cùng một số nhà quản lý các doanh nghiệp sản xuất trên địa bàn tỉnh Hải Dương và tham vấn ý kiến các chuyên gia kinh tế nhằm lựa chọn các yếu tố ảnh hưởng phù hợp với đối tượng và mục tiêu nghiên cứu. Tác giả đề xuất mô hình và giả thuyết nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến gian lận kế toán tại các doanh nghiệp sản xuất trên địa bàn tỉnh Hải Dương như Hình.

Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến gian lận kế toán tại các doanh nghiệp sản xuất trên địa bàn tỉnh Hải Dương
Hình 1: Mô hình nghiên cứu đề xuất

Nguồn: Đề xuất của tác giả

Các giả thuyết được đề xuất như sau:

H1: Hiệu quả kiểm soát nội bộ có ảnh hưởng ngược chiều đến Khả năng gian lận kế toán tại các doanh nghiệp sản xuất

H2: Sự bất cân xứng về thông tin có ảnh hưởng cùng chiều đến khả năng gian lận kế toán tại các doanh nghiệp sản xuất

H3: Tính phù hợp của hệ thống bồi thường có ảnh hưởng ngược chiều đến khả năng gian lận kế toán tại các doanh nghiệp sản xuất

H4: Tuân thủ các nguyên tắc kế toán có ảnh hưởng ngược chiều đến khả năng gian lận kế toán tại các doanh nghiệp sản xuất

H5: Đạo đức nghề nghiệp có ảnh hưởng ngược chiều đến khả năng gian lận kế toán tại các doanh nghiệp sản xuất

H6: Khó khăn tài chính ảnh hưởng cùng chiều đến khả năng gian lận kế toán tại các doanh nghiệp sản xuất

Từ mô hình và giả thuyết nghiên cứu, phương trình nghiên cứu được viết ở dạng tổng quát như sau:

GL = β0 - β1*HQ + β2*CX - β3*BT - β4*NT - β5*DN + β6*TC + e

Trong đó:

GL (Yếu tố phụ thuộc): Gian lận kế toán tại các doanh nghiệp sản xuất

Các yếu độc lập bao gồm (Xi): Hiệu quả kiểm soát nội bộ (HQ); Sự bất cân xứng về thông tin (CX); Tính phù hợp của hệ thống bồi thường (BT); Tuân thủ các nguyên tắc kế toán (NT); Đạo đức nghề nghiệp (DN); Khó khăn tài chính (TC).

βk: Hệ số hồi quy (k = 0, 1, 2,...,6).

e: Sai số ngẫu nhiên

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng thang đo Likert 5 mức độ (Mức 1 – Rất không đồng ý đến Mức 5 – Rất đồng ý). Phiếu khảo sát được phát ra thực tế tuân thủ theo cỡ mấu tốt nhất (10:1) khi tiến hành phân tích nhân tố khám phá (EFA) của Hair và cộng sự (2010). Bằng phương pháp phi xác suất thuận tiện, phiếu khảo sát được phát trực tiếp đến các đối tượng là nhân viên kế toán, kế toán trưởng và các nhà quản lý hiện đang làm việc tại các doanh nghiệp sản suất trên địa bàn tỉnh Hải Dương. Thời gian khảo sát diễn ra từ tháng 9 đến tháng 12/2024. Kết quả sau khi loại bỏ các phiếu không hợp lệ thu về được 335 phiếu đủ điều kiện đưa vào phân tích trên phần mềm SPSS26 để kiểm định giả thuyết với mức ý nghĩa 5%.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Bảng 2: Kết quả phân tích hệ số Cronbach’s Alpha, EFA và hệ số tương quan Pearson

Các yếu tố

Số biến quan sát

Hệ số Cronbach’s Alpha

Hệ số tương quan biến tổng nhỏ nhất

Hệ số tải nhân tố nhỏ nhất

Hệ số tương quan Pearson

HQ

4

0,816

0,526

0,779

0,738**

CX

5

0,795

0,549

0,781

0,714**

BT

6

0,807

0,510

0,775

0,692**

NT

6

0,824

0,503

0,794

0,688**

DN

4

0,788

0,537

0,806

0,706**

TC

5

0,811

0,518

0,787

0,678**

Hệ số KMO = 0,796; Hệ số Eigenvalue = 1,195; Tổng phương sai trích = 76,894%

Kiểm định Barlett’s

Chi bình phương xấp xỉ

7875,662

df

350

Sig.

0,000

GL

3

0,829

0,576

0,801

1,000

Hệ số KMO = 0,812; Hệ số Eigenvalue = 1,931; Tổng phương sai trích = 78,325%

Kiểm định Barlett

Chi bình phương xấp xỉ

312,367

df

3

Sig.

0,000

Ghi chú: ** tương ứng với p < 0,01

Nguồn: Phân tích của tác giả

Kết quả kiểm định độ tin cậy cho thấy, các yếu tố độc lập đều có hệ số Cronbach’s Alpha > 0,7 và hệ số tương quan biến tổng > 0,4 nên thang đo đạt được độ tin cây và giá trị phân biệt. Thực hiện phân tích EFA với phép quay varimax và phương pháp trích Components cho thấy các biến quan sát trong thang đo đều đạt chất lượng bởi hệ số tải nhân tố đều > 0,5 và không có biến quan sát nào bị loại khỏi thang đo. Hệ số KMO = 0,796 và hệ số Sig. của kiểm định Barlett’s nhỏ hơn 0,05. Tại giá trị Eigenvalue > 1 có 6 yếu tố được trích với tổng phương sai trích đạt 76,894%, nghĩa là 6 yếu tố độc lập giải thích được 76,894% sự biến thiên của dữ liệu nghiên cứu. Đối với yếu tố phụ thuộc khi thực hiện các phân tích cho kết quả hệ số Cronbach’s Alpha, hệ số KMO, hệ số tải nhân tố đều nằm trong khoảng > 0,5 và < 1. Tại giá trị Eigenvalue = 1,931 chỉ có một yếu tố được trích với tổng phương sai trích đạt 78,325%. Như vậy, toàn bộ dữ liệu đưa vào phân tích đều đáp ứng tốt các điều kiện đưa ra của Hair và cộng sự (2010).

Ngoài ra, khi thực hiện phân tích tương quan Pearson cho thấy có mối tương quan rất tốt giữa các yếu tố độc lập và yếu tố phụ thuộc với hệ số tương quan đều > 0,4 và hệ số Sig < 0,05 bên cạnh đó, giữa các yếu tố độc lập không xuất hiện nghi ngờ về hiện tượng đa cộng tuyến (Hair và cộng sự, 2010).

Bảng 3: Kết quả phân tích hồi quy tuyến tính đa biến

Mô hình

Hệ số hồi quy chưa chuẩn hóa

Hệ số hồi quy chuẩn hóa

t

Sig.

Thống kê đa cộng tuyến

Beta

Độ lệch chuẩn

Beta chuẩn hóa

Dung sai điều chỉnh

VIF

1

Hằng số

1,856

0,010

5,472

0,000

HQ

-0,309

0,025

-0,317

-6,195

0,000

0,721

1,719

CX

0,271

0,030

0,283

4,308

0,000

0,645

1,788

BT

-0,255

0,028

-0,269

-5,153

0,002

0,672

1,804

NT

-0,214

0,017

-0,235

-4,704

0,000

0,783

1,769

DN

-0,286

0,011

-0,294

-5,216

0,003

0,759

1,821

TC

0,325

0,020

0,348

6,168

0,001

0,765

1,853

Giá trị F = 157,034; Sig. = 0,000

R2 = 0,809 ; R2 hiệu chỉnh = 0,792 ; Durbin-Watson = 1,815

a. Biến phụ thuộc: GL

Nguồn: Phân tích của tác giả

Kết quả phân tích hồi quy tuyến tính đa biến theo phương pháp Enter, các yếu tố độc lập được đưa vào cùng một lúc để kiểm định mô hình lý thuyết cho thấy giá trị R2 hiệu chỉnh đạt 0,792 nghĩa là các yếu tố độc lập giải thích được 79,2% yếu tố phụ thuộc. Giá trị Durbin–Watson đạt 1,815 nên chấp nhận giả thuyết không có sự tương quan chuỗi bậc nhất trong mô hình. Kết quả phân tích ANOVA và kiểm định F cũng cho thấy trị số thống kê có giá trị Sig đạt 0,000 do đó mô hình hồi quy tuyến tính là phù hợp với tệp dữ liệu và có thể sử dụng được. Kiểm định các giả thuyết nghiên cứu cho kết quả các yếu tố đều có mức ý nghĩa Sig. bé hơn 0,05. Hệ số phóng đại phương sai VIF của các yếu tố độc đều < 2, do đó không xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến giữa các yếu tố độc lập.

Bên cạnh đó, kiểm tra giả định về phân phối chuẩn của phần dư cho thấy độ lệch chuẩn gần = 1 và Mean xấp xỉ = 0 nên giả thuyết phân phối chuẩn của phần dư khi xây dựng mô hình hồi quy không bị vi phạm. Biểu đồ phân tán thể hiện sự phân tán ngẫu nhiên của các giá trị phần dư trong một vùng đi qua đường tung độ 0 và các điểm quan sát không phân tán quá xa đường thẳng kỳ vọng do đó giả định liên hệ tuyến tính không vi phạm.

Do đó các giả thuyết nghiên cứu đưa ra đều được chấp nhận Khó khăn tài chính và Sự bất cân xứng về thông tin là hai yếu tố có ảnh hưởng chiều dương đến yếu tố phụ thuộc trong khi Hiệu quả kiểm soát nội bộ; Đạo đức nghề nghiệp; Tính phù hợp của hệ thống bồi thường và Tuân thủ các nguyên tắc kế toán là các yếu tố có ảnh hưởng ngược chiều, phương trình hồi quy theo hệ số Beta chuẩn hóa như sau:

GL = 0,348*TC – 0,317*HQ – 0,294*DN + 0,283*CX – 0,269*BT – 0,235*NT + e

KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ

Kết luận

Kết quả cho thấy, Khó khăn tài chính và Sự bất cân xứng về thông tin là hai yếu tố có ảnh hưởng chiều dương đến yếu tố phụ thuộc trong khi Hiệu quả kiểm soát nội bộ; Đạo đức nghề nghiệp; Tính phù hợp của hệ thống bồi thường và Tuân thủ các nguyên tắc kế toán là các yếu tố có ảnh hưởng ngược chiều đến gian lận kế toán tại các doanh nghiệp sản xuất. Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự tương đồng với kết quả các nghiên cứu của Zulkarnain (2013), Mohamed, M. (2014), Ngô Thị Linh và Nguyễn Thị Thu Hiền (2021), Trần Thế Nữ và Lê Ngọc Anh (2024). Tuy nhiên, nghiên cứu có sự khác biệt về mức độ tác động và thứ tự ảnh hưởng của các yếu tố độc lập, do hoàn cảnh và đối tượng nghiên cứu khác nhau. Hạn chế của nghiên cứu là sử dụng mô hình hồi quy đơn giản với cỡ mẫu khảo sát nhỏ, phương pháp khảo sát thuận tiện chỉ tập trung vào đối tượng nghiên cứu là các doanh nghiệp xây dựng trên địa bàn tỉnh Hải Dương.

Hàm ý quản trị

Một là, các doanh nghiệp cần đảm bảo cơ chế tài chính lành mạnh, tránh tình trạng thiếu hụt vốn dẫn đến áp lực báo cáo tài chính sai lệch. Xây dựng kế hoạch tài chính dài hạn, đa dạng hóa nguồn vốn để giảm rủi ro tài chính, từ đó hạn chế động cơ gian lận do áp lực dòng tiền. Áp dụng các chính sách hỗ trợ tài chính nội bộ, tránh gây áp lực lên kế toán viên hoặc nhà quản lý trong việc phải điều chỉnh số liệu tài chính để đạt chỉ tiêu ngắn hạn.

Hai là, xây dựng quy trình kiểm toán nội bộ chặt chẽ, phân tách nhiệm vụ giữa các bộ phận để tránh xung đột lợi ích. Tăng cường giám sát độc lập từ kiểm toán viên bên ngoài để đảm bảo khách quan trong việc đánh giá báo cáo tài chính. Áp dụng công nghệ giám sát tự động để theo dõi các giao dịch bất thường và giảm thiểu gian lận có chủ đích.

Ba là, doanh nghiệp cần xây dựng môi trường văn hóa nội bộ liêm chính, tổ chức đào tạo thường xuyên về đạo đức kế toán, nâng cao nhận thức về hậu quả pháp lý và đạo đức của gian lận kế toán. Áp dụng cơ chế bảo vệ người tố giác gian lận để khuyến khích nhân viên báo cáo các sai phạm mà không sợ bị trả đũa. Thiết lập hệ thống thưởng – phạt minh bạch, khuyến khích hành vi trung thực trong công việc kế toán.

Bốn là, doanh nghiệp cần kiểm soát sự bất cân xứng thông tin để tăng tính công khai, minh bạch thông tin tài chính, đảm bảo mọi quyết định tài chính quan trọng được giám sát bởi nhiều cấp quản lý. Xây dựng hệ thống báo cáo nội bộ rõ ràng, tăng cường trách nhiệm giải trình giữa các bộ phận kế toán, kiểm toán và quản lý cấp cao. Ứng dụng công nghệ số và phần mềm quản lý tài chính để giảm thiểu sai sót do thông tin không đồng nhất.

Năm là, doanh nghiệp cần xây dựng hệ thống bồi thường hợp lý. Thiết lập cơ chế lương thưởng gắn với hiệu suất thực tế, không chỉ dựa trên kết quả tài chính ngắn hạn để tránh tạo động cơ thao túng số liệu. Xây dựng chính sách khen thưởng dựa trên yếu tố tuân thủ đạo đức nghề nghiệp, khuyến khích hành vi minh bạch và trung thực. Kết hợp các yếu tố phi tài chính vào hệ thống đánh giá hiệu suất, chẳng hạn như sự tuân thủ quy trình kế toán, chất lượng báo cáo tài chính, và đóng góp dài hạn cho doanh nghiệp.

Sáu là, doanh nghiệp cần tăng cường tuân thủ các nguyên tắc kế toán, cập nhật thường xuyên các quy định kế toán, kiểm toán theo chuẩn mực quốc tế và trong nước để đảm bảo báo cáo tài chính minh bạch. Tổ chức kiểm tra định kỳ về tuân thủ kế toán, có sự giám sát của kiểm toán độc lập để đảm bảo không có sự thao túng số liệu. Xây dựng bộ quy tắc kiểm soát tuân thủ, yêu cầu kế toán viên và nhà quản lý phải ký cam kết tuân thủ các nguyên tắc kế toán khi thực hiện công việc./.

Tài liệu tham khảo

  1. Association of Certified Fraud Examiners (ACFE) (2022), Report to the nations: Global study on occupational fraud and abuse.
  2. Bộ Tài chính. (2014), Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 240: Trách nhiệm của kiểm toán viên liên quan đến gian lận trong một cuộc kiểm toán báo cáo tài chính, Hà Nội, Việt Nam.
  3. Bùi Thị Vân Anh (2024), Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ gian lận và sai sót của kế toán viên ở các doanh nghiệp sản xuất ngành dược trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, Tạp chí Kế toán và Kiểm toán, 6, 50–56.
  4. International Auditing and Assurance Standards Board (IAASB) (2020), International Standard on Auditing (ISA) 240: The auditor’s responsibilities relating to fraud in an audit of financial statements, International Federation of Accountants.
  5. Irwandi, S. (2017), The determinants of accounting fraud tendency, The Indonesian Accounting Review, 99–108.
  6. Mohamed, M. (2014), Fraud risk factors of fraud triangle and the likelihood of fraud occurrence: Evidence from Malaysia, Information Management and Business Review, 1(7).
  7. Ngô Thị Linh, Nguyễn Thị Thu Hiền (2021), Các nhân tố ảnh hưởng đến gian lận kế toán các doanh nghiệp niêm yết trong lĩnh vực tài chính trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, Tạp chí Kế toán và Kiểm toán, 18–22.
  8. Purnomo, Y., & Khafid, M. (2017), Pengaruh kompetensi, independensi, dan profesionalisme auditor terhadap kualitas audit, Jurnal Akuntansi dan Keuangan Indonesia, 14(2), 123–135.
  9. Rezaee, Z. (2005), Causes, consequences, and deterrence of financial statement fraud, Critical Perspectives on Accounting, 16(3), 277–298.
  10. Trần Thế Nữ, & Lê Ngọc An. (2024), Các nhân tố ảnh hưởng đến gian lận kế toán tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Hà Nội. Hội thảo khoa học quốc gia về kế toán & kiểm toán năm 2024 (VCAA 2024). NXB Công thương.
  11. U.S. Securities and Exchange Commission. (2019), Accounting fraud: Financial reporting and disclosure. Washington, D.C., USA.
  12. Wells, J. T. (2011), Corporate fraud handbook: Prevention and detection (3rd ed.). John Wiley & Sons.
  13. Zulkarnain, R. M. (2013), Anlisis factor affecting fraud in Surakata, Accounting Analysis Journal.

Ngày nhận bài: 28/01/2025; Ngày phản biện: 03/02/2025; Ngày duyệt đăng: 06/02/2025