Nhân tố tác động đến giá kiểm toán báo cáo tài chính của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Hà Nội
Ngô Tiến Dũng
Khoa Kế toán - Kiểm toán, Học viện Chính sách và Phát triển
Email: ngotiendung@apd.edu.vn
Tóm tắt
Nghiên cứu này phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến mức phí kiểm toán của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Hà Nội, dựa trên khảo sát 170 doanh nghiệp và phân tích dữ liệu bằng SPSS 26. Kết quả chỉ ra rằng quy mô doanh nghiệp và danh tiếng của công ty kiểm toán là hai yếu tố tác động mạnh nhất. Doanh nghiệp có quy mô lớn thường chịu phí cao hơn do yêu cầu kiểm toán phức tạp hơn, trong khi các công ty kiểm toán danh tiếng, đặc biệt là Big4, thường áp dụng mức phí cao hơn so với các công ty nội địa. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở cho doanh nghiệp trong việc hiểu rõ cơ chế xác định phí kiểm toán và hỗ trợ các công ty kiểm toán xây dựng chiến lược giá phù hợp trong môi trường cạnh tranh.
Từ khóa: Giá phí kiểm toán báo cáo tài chính, doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Hà Nội
Summary
This study analyzes the factors influencing audit fees for small and medium-sized enterprises (SMEs) in Hanoi based on a survey of 170 companies and data analysis using SPSS 26. The results indicate that firm size and the reputation of the audit firm are the most significant influencing factors. Larger firms tend to incur higher fees due to more complex audit requirements, while reputable audit firms, especially the Big Four, often charge higher fees compared to domestic firms. The findings provide a basis for businesses to better understand the audit fee determination mechanism and help audit firms develop appropriate pricing strategies in a competitive environment.
Keywords: Financial statement audit fees, small and medium-sized enterprises in Hanoi
ĐẶT VẤN ĐỀ
Giá phí (thù lao) kiểm toán là chi phí mà doanh nghiệp phải chi trả để sử dụng dịch vụ do kiểm toán viên độc lập cung cấp. Đây là yếu tố quan trọng trong việc lựa chọn đơn vị kiểm toán, đặc biệt với các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) vốn hạn chế về tài chính và luôn ưu tiên tối ưu chi phí.
Tại Hà Nội, thay vì cạnh tranh bằng chất lượng như ở các nền kinh tế phát triển, nhiều công ty kiểm toán trong nước cạnh tranh gay gắt bằng cách hạ giá phí. Họ chấp nhận giảm giá để thu hút DNNVV, nơi chi phí thường được ưu tiên hơn chất lượng kiểm toán.
Cạnh tranh không lành mạnh về giá dẫn đến suy giảm chất lượng dịch vụ. Khi giá bị ép xuống quá thấp, công ty kiểm toán buộc phải cắt giảm quy trình, giảm giờ làm hoặc sử dụng nhân sự thiếu kinh nghiệm, làm tăng rủi ro sai sót, khiến báo cáo tài chính không phản ánh trung thực tình hình doanh nghiệp. Nếu không được phát hiện kịp thời, sai sót có thể gây hậu quả nghiêm trọng, làm giảm niềm tin của nhà đầu tư, đối tác và cơ quan quản lý.
Giá phí thấp cũng làm giảm động lực tuân thủ quy trình của kiểm toán viên. Bị giới hạn về thời gian và nguồn lực, họ chỉ thực hiện các thủ tục cơ bản, khó đào sâu phân tích tài chính, làm gia tăng rủi ro sai sót và ảnh hưởng tới tính minh bạch.
Áp lực cạnh tranh tạo vòng luẩn quẩn khi một số công ty hạ giá, các đối thủ buộc phải theo, kéo chất lượng toàn ngành đi xuống. Nếu không được điều tiết, điều này dẫn tới mất cân bằng giữa chi phí và chất lượng, ảnh hưởng đến ngành kiểm toán và thị trường tài chính.
Từ thực trạng trên, nghiên cứu này phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến giá phí kiểm toán báo cáo tài chính của DNNVV tại Hà Nội, đánh giá mức độ tác động và đề xuất giải pháp đảm bảo cân bằng giữa chi phí và chất lượng. Nghiên cứu góp phần nâng cao nhận thức về kiểm toán chất lượng và hỗ trợ cơ quan quản lý xây dựng chính sách phù hợp với bối cảnh thị trường trong nước đang nhiều biến động.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Giá phí kiểm toán là khoản chi phí mà doanh nghiệp phải trả cho công ty kiểm toán để thực hiện dịch vụ kiểm toán báo cáo tài chính. Theo nghiên cứu của Dan A. Simunic (1980), kiểm toán là một loại dịch vụ chuyên nghiệp có thể thay thế hoặc bổ sung cho các dịch vụ tài chính khác, do đó, mức phí kiểm toán chịu ảnh hưởng bởi quan hệ cung - cầu trên thị trường. Cụ thể, các công ty kiểm toán xác định giá phí dựa trên khối lượng công việc, mức độ rủi ro và yêu cầu từ khách hàng, trong khi các doanh nghiệp sử dụng dịch vụ lại lựa chọn dịch vụ kiểm toán dựa trên sự cân nhắc giữa chi phí phải bỏ ra và lợi ích từ báo cáo kiểm toán mang lại. Simunic cũng chỉ ra rằng phí kiểm toán có sự khác biệt giữa các doanh nghiệp do khối lượng công việc kiểm toán và đơn giá có sự thay đổi theo từng hợp đồng. Ngoài ra, mức phí kiểm toán cũng bị ảnh hưởng bởi sự cạnh tranh trên thị trường dịch vụ kiểm toán, đặc biệt trong bối cảnh các doanh nghiệp kiểm toán phải nỗ lực thu hút khách hàng thông qua chính sách giá cả.
Về cấu trúc, theo nghiên cứu của Simunic (1980), Firth (1985) và Palmrose (1986), giá phí kiểm toán được cấu thành từ ba yếu tố chính. Thứ nhất là chi phí thực hiện kiểm toán, bao gồm chi phí nhân công, chi phí vận hành, chi phí phát hành báo cáo kiểm toán và các khoản chi phí hành chính liên quan. Thứ hai là chi phí tổn thất dự kiến, phản ánh các rủi ro pháp lý, chi phí kiện tụng hoặc chi phí tiềm năng để phục hồi sau sai sót kiểm toán. Cuối cùng là lợi nhuận thông thường của công ty kiểm toán, đảm bảo cho doanh nghiệp kiểm toán có thể duy trì hoạt động và phát triển lâu dài. Như vậy, giá phí kiểm toán không chỉ phản ánh chi phí hoạt động của công ty kiểm toán mà còn phản ánh mức độ rủi ro pháp lý và lợi nhuận kỳ vọng của đơn vị cung cấp dịch vụ.
Dưới góc độ phân loại, nghiên cứu của Lê Vũ Vi (2017) cho thấy giá phí kiểm toán có thể được chia thành hai loại chính: phí kiểm toán thông thường và phí kiểm toán bất thường. Phí kiểm toán thông thường được xác định dựa trên các tiêu chí như số giờ làm việc, số lượng kiểm toán viên, quy mô khách hàng, mức độ rủi ro của khách hàng và danh tiếng của công ty kiểm toán. Loại phí này thường được đo lường thông qua các mô hình định lượng. Trong khi đó, phí kiểm toán bất thường là mức phí kiểm toán cao hơn hoặc thấp hơn mức phí thông thường. Các nghiên cứu của DeAngelo (1981), Dye (1991), Choi (2010) và Ettredge (2014) chỉ ra rằng phí kiểm toán bất thường có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, chẳng hạn như công ty kiểm toán chấp nhận giảm giá để duy trì khách hàng lâu dài, doanh nghiệp khách hàng có khả năng thương lượng tốt nên ép giá kiểm toán xuống thấp, hoặc công ty kiểm toán chịu áp lực tài chính, muốn mở rộng thị phần nên chấp nhận hạ giá để cạnh tranh. Theo nghiên cứu của Phạm Trường Quân (2015), giá phí kiểm toán có thể được xác định bằng công thức:
Giá phí kiểm toán = Phí kiểm toán thông thường + Phần phí kiểm toán bất thường
Tóm lại, nghiên cứu về giá phí kiểm toán không chỉ giúp xác định mức giá phù hợp cho các doanh nghiệp kiểm toán mà còn giúp đánh giá tác động của giá phí đối với chất lượng kiểm toán, qua đó góp phần nâng cao tính minh bạch và hiệu quả của thị trường dịch vụ kiểm toán.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp tiếp cận kết hợp giữa phân tích định tính và phân tích định lượng nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến phí kiểm toán báo cáo tài chính của các DNVVN tại thành phố Hà Nội. Trước tiên, tác giả tiến hành tổng quan tài liệu từ các nghiên cứu trong và ngoài nước để nhận diện các yếu tố liên quan, xác định khoảng trống nghiên cứu và đề xuất mô hình phù hợp với bối cảnh thực tiễn. Sau đó, tác giả đặt ra mục tiêu nghiên cứu nhằm xác định các nhân tố tác động đến phí kiểm toán, đánh giá mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố và đưa ra đề xuất cho thị trường kiểm toán Việt Nam nói chung, đặc biệt là đối với các DNVVN tại thành phố Hà Nội.
Dựa trên cơ sở lý thuyết về chi phí đại diện, cung – cầu và chất lượng kiểm toán, tác giả xây dựng hệ thống giả thuyết nghiên cứu liên quan đến các yếu tố như quy mô doanh nghiệp, độ phức tạp của hoạt động kinh doanh, ngành nghề, danh tiếng doanh nghiệp kiểm toán, nhiệm kỳ kiểm toán và khoảng thời gian trễ giữa cuối năm tài chính và báo cáo kiểm toán. Mô hình nghiên cứu bao gồm biến phụ thuộc là phí kiểm toán và các biến độc lập như tổng tài sản, doanh thu, số lượng nhân viên, số lượng công ty con, tỷ lệ khoản phải thu khách hàng, hàng tồn kho trên tổng tài sản, chỉ số ROE, loại hình doanh nghiệp, danh tiếng công ty kiểm toán (Big4 và non-Big4) và độ trễ thời gian giữa cuối năm tài chính và báo cáo kiểm toán.
Giai đoạn nghiên cứu sơ bộ được thực hiện bằng phương pháp định tính thông qua phỏng vấn chuyên gia, bao gồm các kiểm toán viên cao cấp và giám đốc công ty kiểm toán tại thành phố Hà Nội. Mục tiêu của giai đoạn này là đánh giá sự phù hợp của các giả thuyết nghiên cứu, kiểm tra thực tế về các nhân tố ảnh hưởng đến phí kiểm toán và điều chỉnh thang đo để đảm bảo mô hình có tính ứng dụng cao. Sau khi hoàn thiện mô hình, nghiên cứu chính thức được thực hiện bằng phương pháp định lượng. Tác giả thu thập dữ liệu từ báo cáo tài chính đã được kiểm toán của các DNVVN tại thành phố Hà Nội trong tối thiểu ba năm gần nhất, đảm bảo dữ liệu đầy đủ về phí kiểm toán và các chỉ tiêu đo lường. Dữ liệu sau khi thu thập được xử lý và phân tích bằng các phương pháp thống kê như hồi quy tuyến tính đa biến nhằm kiểm định giả thuyết nghiên cứu và xác định mức độ tác động của từng nhân tố đến phí kiểm toán. Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp cái nhìn rõ ràng hơn về cơ chế hình thành phí kiểm toán tại các DNVVN tại thành phố Hà Nội, từ đó giúp tác giả đưa ra các đề xuất chính sách và giải pháp ứng dụng cho thị trường kiểm toán trong nước.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trong nghiên cứu này, ma trận hệ số tương quan được sử dụng nhằm đánh giá mức độ tương quan tuyến tính giữa biến phụ thuộc là phí kiểm toán (PHI) và các biến độc lập được lựa chọn dựa trên cơ sở lý thuyết và thực tiễn của thị trường kiểm toán tại Việt Nam. Phân tích tương quan cho phép xác định sơ bộ mối quan hệ giữa các biến, hỗ trợ kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến và đưa ra căn cứ ban đầu cho việc lựa chọn mô hình hồi quy phù hợp. (Bài viết sử dụng cách viết số thập phân theo chuẩn quốc tế).
Bảng 1: Ma trận hệ số tương quan tuyến tính giữa giá phí kiểm toán và các biến độc lập
![]() |
| Nguồn: Tác giả tổng hợp |
Để kiểm tra việc liệu có xảy ra đa cộng tuyến hay không, tác giả thực hiện tiếp mô hình hồi quy tuyến tính đa biến để xem xét thừa số tăng phương sai (Variance Inflation Factor VIF).
Bảng 2: Bảng tóm tắt mô hình
Model Summaryb
| Model | R | R Square | Adjusted R Square | Std. Error of the Estimate | Durbin-Watson |
| 1 | ,795a | 0.632 | 0.553 | 41709711.2820924 | 2.284 |
a. Predictors: (Constant), Doanhthu, Tongtaisan, ROE, Sanxuat, cophan, Big4, Dotre, SLnhanvien, Pthu-HTK, Thuongmai, TNHH, ctycon-CN
b. Dependent Variable: Phi
Nguồn: Tác giả tổng hợp
Bảng 3: Phân tích phương sai
| Model |
| Sum of Squares | df | Mean Square | F | Sig. |
| 1 | Regression | 167509849001884000.000 | 12 | 13959154083490400.000 | 8.024 | ,000b |
|
| Residual | 97423200853188200.000 | 56 | 1739700015235500.000 |
|
|
|
| Total | 264933049855072000.000 | 68 |
|
|
|
a. Dependent Variable: Phi
b. Predictors: (Constant), Doanhthu, Tongtaisan, ROE, Sanxuat, cophan, Big4, Dotre, SLnhanvien, Pthu-HTK, Thuongmai, TNHH, ctycon-CN
Nguồn: Tác giả tổng hợp
Bảng 4: Bảng hệ số hồi quy
![]() |
| a. Dependent Variable: Phi |
Nguồn: Tác giả tổng hợp
Các Bảng 2, 3 và 4 thể hiện các thông tin từ mô hình hồi quy đầy đủ với biến phụ thuộc là phí kiểm toán. Ta có thể thấy rằng hệ số tương quan tuyến tính R= 0.632, chứng tỏ mối quan hệ tuyến tính giữa biến phụ thuộc và các biến độc lập là khá mạnh, do đó việc sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính đa biến như trên là hợp lý. Hệ số Adjusted R Square = 0.53 cho thấy mô hình xây dựng giải thích được khoảng 53% dữ liệu thực tế, mức độ này là chấp nhận được với một mô hình hồi quy.
Ở Bảng 4 các thừa số VIF đều nhỏ hơn 10, chứng tỏ không tồn tại sự đa cộng tuyến giữa các biến độc lập. Trong nghiên cứu này, để xây dựng mô hình hồi quy, tác giả chọn mức ý nghĩa 5% (mức ý nghĩa phổ biến nhất). Với mức ý nghĩa này, mô hình hồi quy được xây dựng như sau:
Phí kiểm toán = 0.459 * Tongtaisan + 0.463 * Big4
Kết quả mô hình hồi quy đầy đủ cho thấy 2 biến độc lập tác động đến phí kiểm toán với hệ số Sig lần lượt là 0.001 và 0.000. Kết quả mô hình hồi quy hầu như tương tự như kết quả của ma trận hệ số tương quan, phí kiểm toán phụ thuộc vào tổng tài sản của công ty được kiểm toán và vào việc doanh nghiệp kiểm toán có thuộc Big4 hay không. Ngoài ra, hệ số hồi quy chuẩn hóa Beta, trong tất cả các hệ số hồi quy, biến độc lập nào có Beta lớn nhất thì biến đó ảnh hưởng nhiều nhất đến sự thay đổi của biến phụ thuộc. Trong các biến ảnh hưởng đến phí kiểm toán trong mô hình hồi quy, biến kiểm toán Big4 là yếu tố ảnh hưởng mạnh nhất đến việc tăng phí kiểm toán (hệ số Beta = 0.463) và biến Tổng tài sản có hệ số Beta chuẩn hóa = 0.459, không chênh lệch đáng kể so với biến Big4.
KẾT LUẬN
Kết quả nghiên cứu các DNVVN tại thành phố Hà Nội cho thấy có hai yếu tố tác động mạnh và đáng kể đến phí kiểm toán báo cáo tài chính: quy mô của công ty được kiểm toán (đo bằng tổng tài sản) và danh tiếng, quy mô của doanh nghiệp kiểm toán (đo bằng biến Big4). Cả hai yếu tố này đều có tác động tích cực đến phí kiểm toán, nghĩa là khi tổng tài sản của công ty được kiểm toán càng lớn hoặc công ty kiểm toán thuộc nhóm Big4 thì mức phí kiểm toán cũng tăng theo. Điều này phù hợp với các nghiên cứu trước và phản ánh thực tế thị trường kiểm toán Việt Nam, nơi các công ty Big4 có lợi thế về thương hiệu, quy trình kiểm toán nghiêm ngặt hơn và thường áp dụng mức phí cao hơn.
Ngoài ra, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng một số biến số khác như tổng số nhân viên và doanh thu của công ty được kiểm toán không ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đến phí kiểm toán. Điều này có thể do tổng tài sản là thước đo chính xác hơn về quy mô doanh nghiệp, ảnh hưởng trực tiếp đến khối lượng và thời gian thực hiện kiểm toán. Bên cạnh đó, phân tích tương quan và hồi quy cũng cho thấy số lượng công ty con, chi nhánh có tác động tích cực đến phí kiểm toán, bởi doanh nghiệp có cấu trúc tổ chức phức tạp đòi hỏi kiểm toán viên đầu tư nhiều thời gian hơn để đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ, từ đó làm tăng chi phí kiểm toán.
Mặc dù nghiên cứu kỳ vọng rằng ngành nghề và loại hình công ty được kiểm toán sẽ ảnh hưởng đến phí kiểm toán, nhưng kết quả cho thấy các yếu tố này không có tác động đáng kể. Tuy nhiên, khi xét riêng biến FDI, nghiên cứu phát hiện rằng doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thường có mức phí kiểm toán cao hơn do quy trình sản xuất và hệ thống kiểm soát nội bộ phức tạp hơn, đòi hỏi kiểm toán viên thực hiện nhiều thủ tục kiểm toán hơn.
Một yếu tố khác được xem xét là khoảng thời gian trễ giữa cuối năm tài chính và báo cáo kiểm toán, tuy nhiên kết quả phân tích không tìm thấy mối quan hệ có ý nghĩa thống kê với phí kiểm toán. Điều này có thể xuất phát từ việc thời gian trễ chủ yếu phụ thuộc vào lịch trình của cả doanh nghiệp kiểm toán và doanh nghiệp được kiểm toán, hơn là khối lượng công việc thực tế.
Tóm lại, các kết quả nghiên cứu đã cung cấp bằng chứng thực nghiệm đáng tin cậy về các yếu tố ảnh hưởng đến phí kiểm toán trong bối cảnh các DNNVV tại Việt Nam, đồng thời góp phần làm sáng tỏ mối quan hệ giữa đặc điểm doanh nghiệp và chính sách định giá dịch vụ của các công ty kiểm toán, đặc biệt là nhóm Big4.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Tài chính (2023). Quy định về kiểm toán độc lập tại Việt Nam, Cổng thông tin điện tử Bộ Tài chính.
2. DeAngelo, L. E. (1981). Auditor size and audit quality. Journal of Accounting and Economics, 3(3), 183 - 199.
3. Ha, T. (2016). Determinants of audit fees: Evidence from Vietnam. Asian Journal of Finance & Accounting, 8(1), 107 - 129.
4. Ling, Z., Sun, H., & Yu, B. (2018). Audit pricing and audit effort: Evidence from China. China Journal of Accounting Research, 11(1), 53 - 69.
5. Nathalie, G. B., & Schatt, A. (2006). Determinants of audit fees for French quoted firms. Managerial Auditing Journal, 21(2), 96 - 113.
6. Nguyễn, H. T. (2020). Các yếu tố ảnh hưởng đến phí kiểm toán tại Việt Nam, Tạp chí Kế toán & Kiểm toán, 6, 45-56.
7. Nguyễn, Q. T. & Trần, P. L. (2019). Phí kiểm toán và các nhân tố ảnh hưởng tại thị trường Việt Nam, Tạp chí Tài chính, 10, 78 - 90.
8. Simunic, D. (1980). The pricing of audit services: Theory and evidence. Journal of Accounting Research, 18(1), 161 - 190.
9. Xu, Y. (2015). Audit fees and audit quality: Evidence from listed companies in China, International Journal of Business and Management, 10 (10), 123 - 135.
10. Vu, T. D. & Pham, H. N. (2021). Determinants of audit fees in Vietnam’s SME sector, Journal of Asian Business Studies, 15(3), 341 - 358.
| Ngày nhận bài: 02/5/2025; Ngày hoàn thiện biên tập: 22/5/2025; Ngày duyệt đăng: 27/5/2025 |


Bình luận