Phát triển hệ thống trung tâm logistics trên địa bàn tỉnh Long An*
TS. Vòng Thình Nam1
ThS. Phạm Khôi Nguyên2
1,2 Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh
ThS. Nguyễn Thái Hưng3
ThS. Lê Văn Thương4
ThS. Trịnh Minh Quang5
ThS. Nguyễn Văn Dĩnh6
3,4,5,6 Trường Cao đẳng Kinh tế đối ngoại
*Bài viết là sản phẩm của đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường mã số T2024-191 của Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh.
Tóm tắt
Bài viết làm rõ tiềm năng và nhu cầu về dịch vụ logistics, cũng như các điều kiện tự nhiên, xã hội của tỉnh Long An thuận lợi cho việc phát triển hệ thống trung tâm logistics nhằm tăng cường lưu thông hàng hóa đến các tỉnh thành lân cận, xa hơn nữa là phục vụ xuất nhập khẩu hàng hóa. Thông qua việc phân tích thực trạng, những thuận lợi và khó khăn, thách thức, nhóm tác giả đề xuất một số giải pháp để phát triển hệ thống trung tâm logistics tại địa phương, trong đó, tập trung vào việc hoàn thiện các chính sách, văn bản pháp lý nhằm hỗ trợ cho doanh nghiệp phát triển, tiếp tục đẩy mạnh phát triển kết cấu hạ tầng và nguồn nhân lực phù hợp với mục tiêu phát triển của ngành.
Từ khóa: logistics, hệ thống trung tâm logistics, logistics tỉnh Long An
Summary
The article clarifies the potential and demand for logistics services, as well as the natural and social conditions of Long An Province that are favourable for the development of a logistics centre system to increase the circulation of goods to neighbouring provinces and cities and further serve the import and export of goods. Through analyzing the current situation, advantages, difficulties and challenges, the authors propose several solutions to develop a logistics centre system in the locality, focusing on perfecting policies and legal documents to support business development, continuing to promote the development of infrastructure and human resources in line with the development goals of the industry.
Keywords: logistics, logistics center system, Long An Province logistics
ĐẶT VẤN ĐỀ
Là tỉnh thuộc vùng Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL), Long An có vị trí địa lý rất thuận lợi khi tiếp giáp với nhiều tỉnh và thành phố lớn, là cửa ngõ giao thoa giữa vùng Đồng bằng sông Cửu Long và vùng Đông Nam Bộ, giáp ranh với Campuchia, điều này tạo cho Tỉnh tiềm năng lớn trong việc giao thương, vận chuyển hàng hoá đi về với các khu vực lân cận, đồng thời cũng có thể làm nơi tập kết hàng hoá lớn trong vùng. Với lợi thế về vị trí cùng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế trong khu vực, tỉnh Long An được chú trọng đầu tư phát triển hệ thống trung tâm logistics trong những năm gần đây, nhờ đó đã có nhiều bước tiến lớn trong phát triển kết cấu hạ tầng giao thông, đẩy mạnh các hoạt động hỗ trợ cho ngành logistics phát triển… Tuy nhiên để phát triển trở thành hệ thống trung tâm logistics của khu vực, Tỉnh vẫn còn nhiều hạn chế bất cập cần phải khắc phục, như: thiếu các trung tâm logistics chuyên sâu, hệ thống kho, bãi và việc ứng dụng công nghệ cao trong sơ chế, bảo quản để nâng cao giá trị nông sản và kết nối với chuỗi cung ứng toàn cầu. Trước tình hình đó, việc nghiên cứu thực trạng và giải pháp để phát triển mạng lưới dịch vụ logistics tỉnh Long An là hết sức cấp thiết, đặc biệt là trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 và thương mại điện tử đang phát triển mạnh mẽ, từ đó, có thể nâng cao chất lượng và giảm chi phí logistics, giúp ổn định giá cả hàng hóa nhằm thúc đẩy phát triển sản xuất và thương mại tại địa phương, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và cải thiện chất lượng đời sống cho người dân tại Tỉnh, cũng như trong khu vực ĐBSCL.
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG TRUNG TÂM LOGISTICS TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LONG AN
Cơ chế, chính sách phát triển trung tâm logistics
Theo Quyết định số 686/QĐ – TTg, ngày 13/06/2023 “Phê duyệt quy hoạch tỉnh Long An thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050” của Thủ Tướng, Tỉnh Long An đã xác định mục tiêu trở thành tỉnh có ngành dịch vụ logistics phát triển. Theo đó, tập trung vào việc đầu tư xây dựng phát triển hạ tầng thương mại, ưu tiên các hạ tầng có tính lan tỏa, tác động mạnh mẽ đến hỗ trợ sản xuất, lưu thông; Xây dựng hệ thống trung tâm logistics theo hướng đồng bộ, chuyên nghiệp, hiện đại, làm nền tảng cho phát triển kinh tế; Gắn kết hợp lý với quy hoạch phát triển thương mại, công nghiệp, giao thông đường bộ, đường thủy, đường sắt, đường hàng không quy hoạch sử dụng đất và các quy hoạch phát triển hệ thống hạ tầng kinh tế - xã hội khác của Long An và khu vực Đông Nam Bộ, cũng như ĐBSCL; Phát triển các trung tâm logistics dựa trên sự huy động tích cực mọi nguồn lực của xã hội, kể cả đầu tư nước ngoài; Bảo đảm huy động vốn, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu tư xây dựng và khai thác các trung tâm logistics; Phát triển có trọng tâm, trọng điểm trên cơ sở xác định quy mô trung tâm logistics chính; số lượng, vị trí trung tâm logistics vệ tinh phù hợp với từng thời kỳ.
Mặc dù đã có chủ trương quy hoạch phát triển hệ thống trung tâm logistics, nhưng đến này Tỉnh vẫn còn thiếu nhiều các chính sách để hỗ trợ các doanh nghiệp tham gia trong phát triển logistics, như: huy động vốn, mặt bằng, phát triển nguồn nhân lực phù hợp.
Cơ sở hạ tầng giao thông
Mạng lưới đường bộ
Tỉnh Long An có hệ thống mạng lưới đường bộ thuận lợi với các đường cao tốc, quốc lộ, các tuyến đường chuyên dụng, cũng như các nút giao trên các tuyến…, dễ dàng kết nối giữa các tỉnh, thành phố miền Tây với TP. Hồ Chí Minh, vùng Đông Nam Bộ, cũng như kết nối với thị trường quốc tế qua hệ thống cửa khẩu của Tỉnh, cụ thể như sau:
- Cao tốc: TP. Hồ Chí Minh – Trung Lương – Mỹ Thuận; Đường vành đai 3 TP. Hồ Chí Minh, Đường vành đai 4 TP. Hồ Chí Minh, Cao tốc Bến Lức – Long Thành.
- Quốc lộ (QL): Quốc lộ 1, quốc lộ 50, quốc lộ 62, tuyến tránh quốc lộ 62, đường Hồ Chí Minh, đường N1, quốc lộ 14C.
- Các tuyến đường chuyên dụng như Hải Sơn – Tân Đức, đường cặp Kênh Tây, đường cặp kênh Xáng Lớn.
- Các nút giao trên các tuyến và dự án xây dựng nối dài các tuyến đường tỉnh Long An đi các địa phương khác.
Bên cạnh đó, Tỉnh vẫn đang tiếp tục hoàn thiện các dự án xây dựng các nút giao thông nhằm giảm thiểu các điểm xung đột, nâng cao an toàn giao thông, mở rộng thêm các tuyến đường để phục vụ vận chuyển hàng hóa (Bảng).
Bảng: Một số dự án trên các quốc lộ
| TT | Ký hiệu | Tên nút giao | Mô tả | Giai đoạn |
| Thành phố Tân An | ||||
| 1 | TA.1 | QL.1 (Tuyến tránh) x QL.62 | Cầu trên QL.62 vượt QL.1 | 2015-2025 |
| 2 | TA.2 | Đường tỉnh (ĐT).827B x đường sắt quy hoạch (TP. Hồ Chí Minh – Cần Thơ) | Cầu trên ĐT.827B vượt đường sắt quy hoạch | 2020-2030 |
| Huyện Bến Lức | ||||
| 3 | BL.1 | QL.1 x ĐT.830 | Cầu trên ĐT.830 vượt đường sắt quy hoạch | 2020-2030 |
Nguồn: UBND tỉnh Long An, 2020
Mạng lưới đường sắt
Tỉnh sẽ thực hiện các dự án đường sắt quốc gia (Tuyến TP. Hồ Chí Minh – Mỹ Tho – Cần Thơ), đường sắt đô thị (Tân An – TP. Hồ Chí Minh) và đường sắt chuyên dụng (Ga Long Định đến cảng Hiệp Phước, TP. Hồ Chí Minh) để kết nối đồng bộ với hệ thống đường bộ một cách hợp lý.
Mạng lưới đường thủy
Long An có hệ thống sông, kênh, rạch trải dài hàng nghìn km từ vùng hạ lưu ĐBSCL đến Đồng Tháp Mười, có thể kết nối với các địa phương trong và ngoài Tỉnh. Hiện nay, Tỉnh có 18 cảng thủy nội địa, trong đó, có 10 cảng phục vụ xếp dỡ hàng hóa, 7 cảng thủy nội địa chuyên dùng, 1 cảng thủy nội địa xăng dầu. Tất cả các cảng trên thuộc 2 tuyến trọng điểm và tuyến đường thủy quốc gia là sông Cần Giuộc (1 cảng) và sông Vàm Cỏ Đông (17 cảng). Ngoài ra, ở tuyến hàng hải (sông Soài Rạp) của Tỉnh có 2 cảng biển là Cảng Quốc tế Long An và Cảng Dầu khí Quốc tế Pacific Petro do Cảng vụ Hàng hải TP. Hồ Chí Minh quản lý. Với riêng Cảng quốc tế Long An, theo thống kê năm 2023, lưu lượng vận chuyển hàng hóa mỗi ngày đã đạt hơn 25.500 tấn (Vũ Quang, 2024). Hàng năm, Tỉnh vẫn tiếp tục nâng cấp, cải tạo các tuyến vận tải đường thủy để đảm bảo đáp ứng được nhu cầu vận chuyển hàng hóa đường thủy của địa phương.
Hệ thống cung cấp dịch vụ
Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics
Long An hiện có khoảng 13.000 doanh nghiệp trong nước và nước ngoài đang hoạt động tại 16 khu và 21 cụm công nghiệp. Hàng hóa xuất nhập khẩu (XNK) của các doanh nghiệp được giao thương qua cảng cạn Bến Lức (huyện Bến Lức) và Tân Lập (huyện Thủ Thừa) và Cảng quốc tế Long An đến trên 110 quốc gia và vùng lãnh thổ (Thanh Phong, 2023). Tuy nhiên số lượng doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực dịch vụ logistics tính đến nay chưa nhiều và hạn chế về qui mô cũng như khả năng cung ứng dịch vụ. Phần lớn các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ logistics tại Long An vẫn chủ yếu đóng vai trò vệ tinh cho các công ty logistics nước ngoài hoặc là chi nhánh của các công ty logistics tại TP. Hồ Chí Minh. Mặc dù các công ty này đã cung cấp dịch vụ đa dạng hơn khi có cả các hoạt động có giá trị gia tăng, nhưng lại chỉ đảm nhận một số công đoạn trong chuỗi hoạt động logistics. Việc đầu tư xây dựng hệ thống phần mềm quản trị vận tải, quản trị kho bãi, hệ thống mã vạch, robot… hầu như chưa được các doanh nghiệp chú ý, mặc dù đây là những hệ thống giúp doanh nghiệp có thể giảm chi phí và nâng cao năng suất.
Trung tâm logistics
Cảng quốc tế Long An tại Cần Giuộc hiện đang là một trong những trung tâm logistics lớn nhất trên địa bàn Tỉnh, với tổng diện tích 575.100 m2. Cảng có tổng cộng 7 cầu cảng, khả năng tiếp nhận tàu đến 70.000 DWT và có kho lạnh diện tích 60.000 m2 cùng với các thiết bị phục vụ xếp dỡ hàng container hiện đại. Hiện nay, Tỉnh cũng đang tiếp tục được mở rộng thêm 10 cầu cảng với khả năng tiếp nhận tàu tải trọng đến 100.000 DWT và dự kiến quy mô công suất hàng hoá thông quan sẽ đạt khoảng 80 triệu tấn/năm (Port of Long An International, 2025).
Thực hiện Quyết định số 686/QĐ-TTg, ngày 13/06/2023 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt quy hoạch tỉnh Long An thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, UBND tỉnh Long An đã ban hành kế hoạch phát triển 10 trung tâm logistics trên địa bàn tỉnh theo 2 giai đoạn, trong đó: (1) Giai đoạn từ 2023 đến hết năm 2025: tập trung kêu gọi đầu tư, thu hút đầu tư các dự án logictics tại địa bàn các huyện: Bến Lức (50ha, xã Lương Hòa), Cần Giuộc (71.2ha, xã Phước Vĩnh Đông), Châu Thành (giai đoạn 125,07 ha, xã Hiệp Thạnh) và Cần Đước (giai đoạn 175 ha, xã Phước Tuy); (2) Giai đoạn từ năm 2026 đến năm 2030, kêu gọi đầu tư, thu hút đầu tư các dự án logictics còn lại tại địa bàn các huyện và thị xã: Bến Lức (10 ha phần còn lại của xã Thạnh lợi), Bến Lức (10 ha, xã Thanh Phú), thị xã Kiến Tường (10 ha), Đức Huệ (10 ha, xã Mỹ Quý Tây) và Tân Trụ (130,4 ha, xã Nhựt Ninh và xã Đức Tân). (Cổng thông tin điện tử tỉnh Long An).
Các trung tâm đều kết nối các phương thức vận tải từ đường bộ, đường sông và đường biển, thực hiện các hoạt động liên quan đến vận tải logistics và phân phối hàng hoá nội địa, cũng như quốc tế (Hình 1).
Hình 1: Cảng quốc tế Long An
![]() |
Nguồn: Cổng thông tin Cảng quốc tế Long An - longanport.com
Khu công nghiệp và khu kinh tế cửa khẩu
Tính đến cuối năm 2023, toàn Tỉnh có 198 dự án đầu tư liên quan đến hoạt động logistics (dịch vụ vận tải hàng hóa, dịch vụ cho thuê kho bãi, dịch vụ cho thuê kho...) hoạt động trong các khu công nghiệp của tỉnh Long An, với tổng vốn đầu tư đăng ký khoảng 1 tỷ USD và 27.000 tỷ đồng, với tổng diện tích khoảng 600 ha. (Sở Công Thương Long An, 2023).
Trên địa bàn Tỉnh có khu kinh tế cửa khẩu Long An được Thủ tướng Chính phủ cho phép thành lập tại Quyết định số 07/2010/QĐ-TTg, ngày 25/01/2010 với tổng diện tích 13.080 ha. Khu kinh tế cửa khẩu bao gồm một phần thị xã Kiến Tường, huyện Mộc Hóa và huyện Vĩnh Hưng, được hưởng các chính sách đặc biệt ưu đãi về đầu tư, tài nguyên... nhằm khai thác tiềm năng và phát triển kinh tế - xã hội trong khu vực.
Nguồn nhân lực logistics
Long An được xem là tỉnh có cơ cấu dân số vàng, tỷ trọng người trong độ tuổi 15-64 tuổi, chiếm 71,1% tổng dân số (Hình 2). Chất lượng nguồn nhân lực được đánh giá ở mức thấp, người lao động không được đào tạo nghiệp vụ chuyên sâu về logistics, chưa kể đến trình độ về công nghệ thông tin, kiến thức tài chính, ngân hàng, pháp luật cũng còn nhiều hạn chế. Trong khi đó ngành logistics có tính quốc tế cao, nhưng nhân lực còn thiếu cả kiến thức về ngoại ngữ và sự hiểu biết về luật pháp quốc tế, vận tải, hàng hải.
Hình 2: Cơ cấu dân số lao động tỉnh Long An giai đoạn 2021-2023
![]() |
Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Long An, 2023
KHÓ KHĂN HẠN CHẾ
Về cơ chế, chính sách phát triển hệ thống trung tâm logistics
Hiện nay, Tỉnh vẫn thiếu cơ chế, chính sách phát triển đồng bộ hệ thống logistics trên địa bàn. Cụ thể, chưa có quy hoạch tổng thể mạng lưới logistics, kết hợp vận tải đường bộ, đường thủy đến các trung tâm logistics và đặc biệt là quy hoạch nguồn nhân lực logistics. Điều này đã gây khó khăn cho các doanh nghiệp trong việc tạo ra các mối liên kết sản xuất - tiêu thụ sản phẩm, cũng như bảo quản các mặt hàng nông sản, thực phẩm để nâng cao giá trị khi kết nối với chuỗi cung ứng trong nước và chuỗi cung ứng toàn cầu. Hoạt động logistics hiện tại trên địa bàn phát triển chủ yếu mang tính chất tự phát, nên nhỏ lẻ và manh mún, thiếu tính chuyên nghiệp, dẫn đến chất lượng dịch vụ thấp và chi phí cao, dẫn đến giá bán hàng hóa cao, làm giảm năng lực cạnh tranh của hàng hóa sản xuất tại địa phương khi tham gia tiêu thụ ở những tỉnh thành khác.
Ngoài ra, cũng chưa có nhiều chính sách hỗ trợ cụ thể trong lĩnh vực phát triển dịch vụ logistics và hỗ trợ doanh nghiệp trong lĩnh vực này. Các doanh nghiệp vận tải đường bộ và đường thủy hầu hết có quy mô nhỏ, phát triển tự phát, manh mún, sử dụng các phương tiện lạc hậu, không đảm bảo năng suất và không bảo quản tốt sản phẩm trong quá trình vận chuyển. Xuất phát từ thực trạng địa bàn Tỉnh thiếu các doanh nghiệp vận tải chuyên nghiệp, nên nhiều hộ nông dân tự tổ chức vận tải bằng các phương tiện sẵn có hoặc huy động từ người thân, xóm giềng…, do đó, phương tiện vận tải và bảo quản không đảm bảo chất lượng nông sản trong quá trình vận chuyển. Thêm vào đó, thời gian vận chuyển dài, làm cho nông sản bị hư hỏng và phát sinh thêm chi phí, ảnh hưởng đến nguồn thu nhập của nông hộ. Trong điều kiện này, các doanh nghiệp logistics nhìn chung còn gặp nhiều khó khăn trong phát triển hoạt động kinh doanh do thiếu các chính sách hỗ trợ đồng bộ. Đó là chưa kể việc thực hiện các thủ tục hành chính hiện nay còn khá phức tạp, mất nhiều thời gian và chi phí.
Về cơ sở hạ tầng
Kết cấu hạ tầng giao thông của Tỉnh chưa đồng bộ, tuyến đường ở khu vực các huyện, thị xã có tải trọng nhỏ, quy mô chưa đáp ứng yêu cầu. Các công trình giao thông triển khai thi công vẫn còn chậm. Song song với lợi thế và tiềm năng và phát triển, thời gian qua, vận tải hàng hóa nội địa ở Tỉnh còn gặp một số khó khăn, hạn chế. Vẫn còn những chủ bến, chủ phương tiện và người lái phương tiện chưa chấp hành tốt quy định của Luật Giao thông đường thuỷ nội địa và các văn bản pháp luật liên quan. Những năm qua, các cơ quan chức năng còn gặp nhiều khó khăn trong việc xử lý, tạm giữ phương tiện vi phạm và hạ tải đối với phương tiện vi phạm chở hàng vượt quá dấu mớn nước an toàn.
Về hệ thống chủ thể cung cấp dịch vụ logistics
Các doanh nghiệp có chức năng hoạt động logistics trên địa bàn Tỉnh chủ yếu thực hiện các dịch vụ đơn lẻ, như: vận tải, phân phối bán buôn, bán lẻ có quy mô vừa và nhỏ, tập trung ở thị trường nội địa. Điều này một phần là do tình hình biến động về giá cả nhiên liệu xăng dầu không ổn định, gây không ít khó khăn cho các doanh nghiệp logistics, doanh nghiệp vận tải và kinh doanh cảng biển.
Bên cạnh đó, trên địa bàn tỉnh Long An hiện nay cũng có rất nhiều kho, bến bãi để tập kết, phân loại, bảo quản nông sản trước khi xuất khẩu hay vận chuyển đi các tỉnh lân cận. Tuy nhiên, hầu hết, các kho, bãi hiện nay là do cá nhân và doanh nghiệp nhỏ tự xây dựng, nên rất hạn chế về quy mô, không có trang thiết bị và thiếu tính chuyên nghiệp. Hệ thống hạ tầng kho bãi thiếu thốn, nên nhiều doanh nghiệp không thực hiện được các khâu sơ chế, phân loại, đóng gói… để nâng cao giá trị nông sản, đưa đi xa tiêu thụ, mà chỉ có thể tiêu thụ hàng hóa nhanh trong Tỉnh hoặc tiêu thụ ở các tỉnh lân cận, từ đó, hạn chế hoạt động xuất khẩu. Thực tế này cho thấy, hạn chế của hoạt động logistics đã làm giảm giá trị hàng hóa, mà lẽ ra người nông dân và các doanh nghiệp của tỉnh Long An được hưởng.
Về nguồn nhân lực logistics
Nguồn nhân lực đang làm việc trong ngành logistics trên cả nước hiện nay nói chung và tại Long An nói riêng, cũng đến từ nhiều ngành nghề khác nhau, chắp vá lẫn lộn, thiếu tính chuyên nghiệp, nên chất lượng lao động không cao, ảnh hưởng chất lượng dịch vụ. Điều này dẫn đến tình trạng không có doanh nghiệp có quy mô lớn, có tính chuyên nghiệp cao trong ngành để làm tốt vai trò nòng cốt, dẫn dắt phát triển cho ngành. Thực trạng này gây ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả kinh doanh, làm giảm năng lực cạnh tranh của ngành, từ đó, kìm hãm sự phát triển của ngành logistics trên địa bàn tỉnh Long An nói riêng và trên cả nước nói chung.
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
Hoàn thiện cơ chế, chính sách và thủ tục hành chính
Chính quyền địa phương nên rà soát lại quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch giao thông vận tải và quy hoạch thương mại để đảm bảo tính đồng bộ của hạ tầng giao thông trên toàn bộ địa bàn các huyện, thị xã và thành phố. Lựa chọn và công bố các dự án cơ sở hạ tầng logistics trọng điểm, đồng thời kêu gọi đầu tư và tăng cường hoạt động quảng bá, xúc tiến đầu tư phối hợp với các cơ quan liên quan.
Kiểm tra và hoàn thiện các chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực logistics, bao gồm cả chính sách hỗ trợ cho các doanh nghiệp mới khởi nghiệp trong lĩnh vực này. Tiếp tục phát triển các cơ chế, chính sách ưu đãi và khuyến khích đầu tư vào các ngành thuộc lĩnh vực logistics trên toàn bộ địa bàn, tập trung vào các dịch vụ chính như kho bãi, xếp dỡ, vận tải và thủ tục hải quan. Tiếp tục phát triển hệ thống hành chính linh hoạt và hiệu quả, hướng tới việc tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của cả doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực logistics nói riêng. Điều này sẽ góp phần tạo ra những thay đổi đáng kể trong việc thu hút đầu tư và phát triển kinh doanh.
Phát triển cơ sở hạ tầng và trang thiết bị, kỹ thuật logistics
Ưu tiên đầu tư các công trình trọng điểm để đảm bảo yêu cầu phát triển trung tâm logistics hướng đến phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Long An. Huy động các nguồn vốn trong và ngoài nước với nhiều hình thức đầu tư khác nhau: Xây dựng các chính sách ưu tiên, ưu đãi khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực cơ sở hạ tầng giao thông vận tải, kể cả cầu, đường, bến xe, bãi xe…, bao gồm: miễn giảm thuế các loại một số năm, giảm tiền thuê đất cho các loại hình dịch vụ trong giao thông vận tải, ưu tiên trong giải quyết thủ tục đầu tư… Tăng cường công tác quản lý bảo trì hệ thống kết cấu hạ tầng, các trung tâm logistics, cũng như các bến cảng, bãi phục vụ vận chuyển hàng hoá.
Phát triển hệ thống chủ thể cung cấp và sử dụng dịch vụ logistics
Đẩy mạnh thu hút và kêu gọi doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực logistics trên địa bàn tỉnh theo chủ trương đã quy hoạch, hướng tới phát triển hoàn thiện hệ thống trung tâm logistics nhằm phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
Đối với các trung tâm logistics, tạo ra các cơ sở gom hàng vệ tinh hoạt động chuyên nghiệp, có khả năng cung cấp dịch vụ cho các nhóm sản phẩm chính của Tỉnh, như: lúa, gạo, thủy sản, rau củ. Đây là nơi tập kết hàng hóa từ các địa điểm sản xuất và cung cấp các dịch vụ gia tăng, như: đóng gói, bao bì để phục vụ nhu cầu xuất khẩu hoặc cung cấp sang các địa phương khác. Các trung tâm logistics không chỉ phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, mà còn phục vụ cho công nghiệp, thương mại dịch vụ trên địa bàn Tỉnh.
Cơ quan chức năng thường xuyên hỗ trợ, cung cấp thông tin và tạo điều kiện cho doanh nghiệp tham gia các sự kiện, triển lãm về logistics ở trong nước và nước ngoài, như: Cam kết quốc tế về dịch vụ logistics tại WTO, ASEAN và các hiệp định thương mại tự do FTA, từ đó, hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực đàm phán, ký kết, thực hiện hợp đồng, xử lý tranh chấp liên quan đến hoạt động logistics.
Phát triển nguồn nhân lực
Tăng cường việc đào tạo nguồn nhân lực về logistics các trình độ từ trung cấp nghề đến cao đẳng và đại học, cùng với sự hợp tác với các trường và tổ chức đào tạo khác trong lĩnh vực ngoại thương, hàng hải và giao thông vận tải. Điều này nhằm mục đích cung cấp lực lượng lao động có chất lượng để phát triển ngành logistics. Thường xuyên cập nhật kiến thức trong và ngoài nước để nâng cao chất lượng của các chương trình đào tạo về vận tải và logistics, đào tạo gắn với tình hình thực tiễn, gắn kết đặc thù quốc gia với hội nhập quốc tế./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Cổng thông tin điện tử tỉnh Long An, Long An phát triển hình thành 10 trung tâm logistics trên địa bàn tỉnh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, truy cập từ https://longan.gov.vn/kinh-te/long-an-phat-trien-hinh-thanh-10-trung-tam-logistics-tren-dia-ban-tinh-den-nam-2030-tam-nhin-den-972517
2. Cục Thống kê tỉnh Long An (2023), Tình hình kinh tế - xã hội quý IV và cả năm 2023 tỉnh Long An, truy cập từ https://cucthongke.longan.gov.vn/tin-chuyen-nganh-78218/thong-cao-bao-chi-tinh-hinh-kinh-te-xa-hoi-quy-iv-va-ca-nam-2023-641316.
3. Cục Thống kê tỉnh Long An (2021), Tình hình kinh tế xã hội quý IV và cả năm 2021 tỉnh Long An, truy cập từ https://www.mpi.gov.vn/portal/Pages/2021/Tinh-hinh-kinh-te-xa-hoi-Quy-IV-va-ca-nam-2021-cua-418553.aspx.
4. Port of Long An International (2025), Cảng quốc tế Long An, truy cập từ https://longanport.com/.
5. Sở Công Thương Long An (2023), Báo cáo thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp để cải thiện chỉ số hiệu quả logistics (LPI) trên địa bàn tỉnh Long An trong 6 tháng đầu năm 2023.
6. Tổng cục Thống kê (2022), Dân số Long An năm 2022, truy cập từ https://danso.info/dan-so-long-an/.
7. Thủ tướng Chính phủ (2010), Quyết định số 07/2010/QĐ-TTg, ngày 25/01/2010 về việc thành lập khu kinh tế cửa khẩu Long An, tỉnh Long An.
8. Thủ tướng Chính phủ (2023), Quyết định số 686/QĐ-TTg, ngày 13/06/2023 về việc phê duyệt Quy hoạch tỉnh Long An thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.
9. Thanh Phong (2023), Long an tăng cường kết nối giao thương doanh nghiệp logistics, truy cập từ https://nhandan.vn/long-an-tang-cuong-ket-noi-giao-thuong-doanh-nghiep-logistics-post783807.html.
10. UBND tỉnh Long An (2020), Tờ trình số 93/TTr-UBND, ngày 16/6/2020 về việc đề nghị ban hành nghị quyết điều chỉnh, bổ sung quy hoạch phát triển giao thông vận tải đường bộ tỉnh Long An đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030.
11. UBND tỉnh Long An (2021), Kế hoạch số: 265/KH-UBND, ngày 22/01/2021 về hành động thực hiện Chiến lược dân số giai đoạn 2020-2025, tầm nhìn đến năm 2030 của tỉnh Long An.
| Ngày nhận bài: 26/01/2025; Ngày phản biện: 08/02/2025; Ngày duyệt đăng: 26/02/2025 |


Bình luận