PGS. TS. Hoàng Văn Hoan – Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

Email: hoanhvct@gmail.com

TS. Nguyễn Danh Nam – Trường Đại học Thành Đông

Email: namnd@thanhdong.edu.vn

Tóm tắt

Trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng, thương mại đóng vai trò trung tâm trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội. Dựa trên cơ sở lý thuyết và kinh nghiệm từ các quốc gia, như: Đức, Nhật Bản, Singapore, Thái Lan, với nhiều chính sách, như: phát triển thương mại xanh, tối ưu hóa chuỗi cung ứng, áp dụng công nghệ sạch và tham gia sâu vào các hiệp định thương mại bền vững. Những bài học rút ra từ những quốc gia tiến tiến là cơ sở giúp Việt Nam định hình các chính sách phù hợp, nâng cao năng lực cạnh tranh và đảm bảo phát triển thương mại theo hướng bền vững trong dài hạn.

Từ khóa: Phát triển thương mại, phát triển bền vững, hội nhập, Việt Nam

Abstract: In the context of deepening global integration, trade plays a central role in driving economic growth and social development. Drawing on theoretical foundations and the experiences of countries such as Germany, Japan, Singapore, and Thailand—which have implemented policies like green trade development, supply chain optimization, clean technology adoption, and active participation in sustainable trade agreements—valuable lessons can be learned. These insights provide a foundation for Vietnam to shape appropriate policies, enhance its competitive capacity, and ensure the long-term sustainability of its trade development.

Keywords: Trade development; Sustainable development; Integration; Vietnam

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bước vào thế kỷ XXI, thế kỷ của sự mở cửa và hội nhập, trước bối cảnh toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng đó, thương mại đóng vai trò trung tâm trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội. Sự gia tăng nhanh chóng của hoạt động thương mại không chỉ giúp nâng cao thu nhập, tạo công ăn việc làm mà còn thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại hơn. Tuy nhiên, cùng với những lợi ích kinh tế, quá trình mở rộng thương mại cũng đặt ra nhiều thách thức đối với phát triển bền vững, bao gồm khai thác tài nguyên quá mức, ô nhiễm môi trường, bất bình đẳng trong phân phối lợi ích và sức ép cạnh tranh đối với doanh nghiệp nội địa. Các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là những nền kinh tế tiên tiến như Liên minh châu Âu (EU), Hoa Kỳ, Nhật Bản hay các nước trong khu vực ASEAN, đã có những bước đi chiến lược trong việc phát triển thương mại bền vững.

Các chính sách này thường tập trung vào việc xây dựng hệ thống thương mại xanh, thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng có trách nhiệm, nâng cao tiêu chuẩn lao động, áp dụng công nghệ sạch và cải thiện chuỗi cung ứng bền vững. Nhiều nước đã lồng ghép các tiêu chuẩn môi trường và xã hội vào các hiệp định thương mại, sử dụng chính sách thuế xanh, áp dụng các mô hình kinh tế tuần hoàn và tăng cường kiểm soát chất lượng hàng hóa nhập khẩu theo hướng bền vững.

Tại Việt Nam là một trong những nền kinh tế có độ mở cao, với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng năm thường xuyên vượt mức 100% GDP. Việc tham gia vào các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP (Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương), EVFTA (Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU), RCEP (Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực) đã mang lại nhiều cơ hội lớn cho nền kinh tế Việt Nam, đặc biệt là trong việc mở rộng thị trường xuất khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài và nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế. Trong những năm gần đây, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực nhằm thúc đẩy thương mại bền vững thông qua các chính sách cải cách thể chế, khuyến khích doanh nghiệp áp dụng tiêu chuẩn ESG (Môi trường – Xã hội – Quản trị), phát triển thương mại điện tử xanh và thúc đẩy sản xuất bền vững. Mặc dù vậy, bối cảnh hội nhập cũng đặt ra những yêu cầu khắt khe về phát triển bền vững, bên cạnh những động lực lớn việc tăng trưởng thương mại cũng còn vô số khó khăn tồn tại trong quá trình thực hiện khi khung pháp lý về thương mại bền vững còn chưa đồng bộ, thiếu các cơ chế khuyến khích mạnh mẽ để thúc đẩy doanh nghiệp chuyển đổi sang mô hình phát triển bền vững, Các doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, gặp khó khăn trong việc đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường và xã hội bởi sự hạn chế về tài chính, công nghệ và nhân lực.

Nhiều ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam như dệt may, da giày, thủy sản đang chịu áp lực lớn từ các quy định về phát triển bền vững tại thị trường nhập khẩu, đòi hỏi phải có sự điều chỉnh mạnh mẽ trong mô hình sản xuất và chuỗi giá trị. Ngoài ra, sự gia tăng nhanh chóng của hoạt động thương mại có nguy cơ làm trầm trọng thêm các vấn đề ô nhiễm môi trường, suy giảm tài nguyên thiên nhiên nếu không có cơ chế quản lý hiệu quả.

Trước thực tế đó, việc nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về phát triển thương mại theo hướng bền vững và rút ra hàm ý cho Việt Nam là cần thiết. Những bài học từ các quốc gia tiên tiến sẽ giúp Việt Nam định hình các chính sách phù hợp, nâng cao năng lực cạnh tranh và đảm bảo phát triển thương mại theo hướng bền vững trong dài hạn.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI THEO HƯỚNG BỀN VỮNG

Phát triển thương mại theo hướng bền vững là quá trình mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động thương mại trong khi vẫn đảm bảo các tiêu chí bền vững về kinh tế, môi trường và xã hội. Theo định nghĩa của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP), thương mại bền vững là thương mại không chỉ tạo ra giá trị kinh tế mà còn thúc đẩy sản xuất xanh, tiêu dùng có trách nhiệm, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên và đảm bảo công bằng xã hội. Theo Ha (2004) phát triển thương mại theo định hướng bền vững là quá trình thúc đẩy hoạt động thương mại theo cách đảm bảo sự công bằng xã hội, đồng thời cân bằng hài hòa giữa các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường. Cách tiếp cận này yêu cầu sự phối hợp chặt chẽ giữa phát triển thương mại với các lĩnh vực kinh tế khác, nhằm hướng đến một xã hội không chỉ đáp ứng đầy đủ nhu cầu vật chất mà còn giàu có về tinh thần và văn hóa, đảm bảo tính bình đẳng giữa các cá nhân và duy trì sự hài hòa giữa con người với thiên nhiên.

Hà Văn Sự và Lê Nguyễn Diệu Anh (2021) cho rằng, phát triển thương mại theo hướng bền vững là sự phát triển thương mại đòi hỏi tốc độ tăng trưởng nhanh nhưng vẫn duy trì tốt sự ổn định về quy mô, cơ cấu hợp lý, đồng thời đảm bảo chất lượng và hiệu quả thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mà còn góp phần vào công tác xóa đói giảm nghèo và bảo vệ môi trường, tạo nền tảng cho sự phát triển lâu dài và bền vững. Như vậy, để đạt được sự phát triển thương mại đáp ứng tốt yêu cầu phát triển bền vững quy mô cần có sự tăng trưởng nhanh chóng song cũng phải đảm bảo tính ổn định. Bên cạnh đó, cơ cấu thương mại cần hướng đến sự cân bằng, tận dụng lợi thế so sánh của đất nước nhưng cũng phải có sự chuyển đổi từ các ngành sử dụng nhiều tài nguyên, lao động giá rẻ sang các ngành có giá trị gia tăng cao, sử dụng công nghệ hiện đại và mô hình lưu thông hàng hóa cũng cần hướng đến phát triển bền vững, tiết kiệm tài nguyên không tái tạo giúp giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường.

Ngoài ra, cần đảm bảo chất lượng phát triển thương mại bằng cách nâng cao giá trị gia tăng, tăng tỷ trọng hàng hóa công nghệ cao và giảm phụ thuộc vào sản phẩm thô, đồng thời nâng cao năng lực tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Phát triển thương mại phải đóng góp tích cực vào sự bền vững của nền kinh tế, hỗ trợ ổn định kinh tế vĩ mô, giảm nghèo và đảm bảo công bằng xã hội thông qua việc tạo ra việc làm có giá trị gia tăng cao (Le, 2020).

Theo Acemoglu và Robinson (2012), sự phát triển của một đất nước không chỉ đến từ điều kiện địa lý hay văn hóa mà phụ thuộc phần lớn vào mô hình phát triển và thể chế. Do đó, những quốc gia có mô hình phát triển kinh tế hợp lý, thể chế nhà nước ổn định và khả năng dự báo tương lai tốt sẽ thu hút đầu tư mạnh mẽ hơn, từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và thương mại một cách bền vững (World Bank, 1997). Nền kinh tế có được phát triển bền vững hay không phụ thuộc nhiều vào năng lực cạnh tranh quốc gia cao hay thấp cũng như mức độ thuận lợi hay kém thuận lợi của môi trường kinh doanh (Law, 2010).

Theo United Nations (2015), cạnh tranh trong thương mại giúp nâng cao hiệu quả kinh tế, khuyến khích đổi mới và cải thiện chất lượng sản phẩm. Đây là yếu tố cốt lõi đảm bảo sự thịnh vượng kinh tế và duy trì sự phát triển thương mại bền vững (Porter, 1990).

Các nghiên cứu của Zollinger và cộng sự (2007), Ho (2009) và Duong (2015) đều cho rằng toàn cầu hóa ảnh hưởng tích cực đến phát triển thương mại theo hướng bền vững. Thông qua toàn cầu hóa, kinh tế tăng trưởng nhờ mở rộng thị trường cung cấp, phát huy năng lực lao động và chuyên môn hóa sản xuất, đẩy mạnh tự do hóa các hoạt động tài chính và đầu tư quốc tế, nới lỏng kiểm soát tín dụng, tự do hóa lãi suất, tự do hóa tham gia hoạt động ngân hàng và các dịch vụ tài chính trên toàn thế giới, tự do hóa việc di chuyển của các dòng vốn quốc tế. Trong nền kinh tế tri thức đó, con người không chỉ là lực lượng lao động mà còn là nguồn lực quan trọng quyết định sự phát triển thương mại.

Theo Wu Yingyu (2003) trình độ lao động càng cao thì khả năng tiếp thu công nghệ mới càng tốt, từ đó nâng cao năng suất và hiệu quả thương mại. Việc chuyển đổi sang các công nghệ sản xuất sạch hơn, tiết kiệm năng lượng và giảm phát thải là một xu hướng tất yếu trong thương mại toàn cầu. Beder (1994) chỉ ra rằng khoa học công nghệ đóng vai trò then chốt trong phát triển bền vững, giúp tối ưu hóa sử dụng tài nguyên và giảm thiểu ô nhiễm môi trường.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp nhằm tổng hợp các tài liệu, báo cáo, chính sách liên quan đến phát triển thương mại từ các tổ chức quốc tế, cơ quan quản lý nhà nước, cũng như các công trình nghiên cứu trước đó nhằm xây dựng cơ sở lý luận vững chắc cho việc phát triển thương mại theo hướng bền vững. Kết hợp, sử dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình để lựa chọn và phân tích kinh nghiệm của một số quốc gia như Trung Quốc, Thái Lan, Singapore, Đức đây đều là những quốc gia tiêu biểu đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể trong việc xây dựng chiến lược, chính sách phát triển thương mại theo hướng bền vững, từ đó rút ra những bài học nhằm vận dụng vào thực tiễn tại Việt Nam.

KINH NGHIỆM MỘT SỐ QUỐC GIA TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI THEO HƯỚNG BỀN VỮNG

Kinh nghiệm của Trung Quốc

Trung Quốc là một trong những quốc gia điển hình trong việc phát triển thương mại theo hướng bền vững, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập kinh tế sâu rộng. Trung Quốc đã tiến hành cải cách và mở cửa nền kinh tế từ năm 1987 với mục tiêu công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Trải qua hơn ba thập kỷ, thực hiện nhiều chính sách cải cách và điều chỉnh chiến lược để vừa duy trì tốc độ tăng trưởng thương mại cao, vừa đảm bảo tính bền vững về môi trường và xã hội quốc gia này đã đạt được nhiều thành tựu trong phát triển kinh tế, đặc biệt là thương mại quốc tế.

Trung Quốc xác định rõ lợi thế cạnh tranh của mình là nguồn lao động dồi dào, giá rẻ nhưng trình độ công nghệ còn thấp. Do đó, trong giai đoạn đầu của quá trình mở cửa, quốc gia này tập trung phát triển thương mại xuất khẩu các sản phẩm thâm dụng lao động như dệt may, da giày, đồ chơi, vali, túi xách. Đổi mới hệ thống quản lý thương mại quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp cận thị trường nước ngoài. Các thủ tục hành chính liên quan đến xuất nhập khẩu được đơn giản hóa nhằm thúc đẩy dòng chảy thương mại. Đẩy mạnh phát triển các khu công nghiệp chuyên biệt tại các vùng duyên hải, nơi có vị trí thuận lợi cho giao thương quốc tế. Mô hình khu chế xuất, khu gia công được áp dụng rộng rãi, thu hút nhiều doanh nghiệp nước ngoài tham gia vào chuỗi cung ứng. Chủ động nâng cấp sản phẩm xuất khẩu, không chỉ tập trung vào hàng hóa giá rẻ mà còn từng bước nâng cao giá trị công nghệ của sản phẩm. Trung Quốc áp dụng các dây chuyền lắp ráp hiện đại, từng bước gia tăng hàm lượng giá trị gia tăng trong hàng hóa xuất khẩu. Nhờ chiến lược tận dụng lợi thế so sánh, Trung Quốc nhanh chóng vươn lên thành một trong những quốc gia xuất khẩu lớn nhất thế giới.

Trung Quốc không ngừng đẩy mạnh thu hút và sử dụng vốn đầu tư nước ngoài. Với tư cách là một nền kinh tế chuyển đổi, quốc gia này tập trung cải cách thể chế, ban hành nhiều luật mới, điều chỉnh hoặc loại bỏ các quy định lỗi thời không còn phù hợp với WTO. Đồng thời, Trung Quốc nới lỏng nhiều hạn chế đối với đầu tư nước ngoài, đảm bảo môi trường kinh doanh bình đẳng cho các doanh nghiệp FDI, cho phép nhà đầu tư quốc tế tự do lựa chọn địa điểm đầu tư trên cả nước và khuyến khích họ tập trung vào các khu vực có lợi thế kinh tế. Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng tạo điều kiện để các doanh nghiệp FDI đẩy mạnh xuất khẩu. Các doanh nghiệp này không chỉ góp phần vào tăng trưởng thương mại và kinh tế, mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển giao công nghệ quốc tế. Thông qua quá trình này, Trung Quốc tiếp thu thành tựu khoa học công nghệ từ nước ngoài, dần thu hẹp khoảng cách với các nền kinh tế phát triển, đồng thời ứng dụng hiệu quả tri thức và kinh nghiệm quốc tế vào phát triển công nghệ và tăng trưởng kinh tế trong nước.

Trung Quốc từng bước thúc đẩy tự do hóa thương mại và đầu tư bằng cách giảm dần các rào cản thuế quan và phi thuế quan. Nhằm đạt mục tiêu trở thành một quốc gia công nghiệp hóa với tỷ lệ dân số phi nông nghiệp cao và nền công nghiệp, dịch vụ hiện đại, Trung Quốc đã có chiến lược mở cửa thận trọng, theo lộ trình phù hợp để nâng cao năng lực cạnh tranh và duy trì sự ổn định của thị trường nội địa. Cụ thể, quốc gia này mở cửa có chọn lọc đối với lĩnh vực nông nghiệp, từng bước nới lỏng các hạn chế trong ngành khai thác mỏ, trong khi các ngành công nghiệp, đặc biệt là sản xuất chế tạo, được ưu tiên mở cửa mạnh mẽ. Ngoài ra, Trung Quốc khuyến khích đầu tư vào các lĩnh vực như thương mại, tài chính, giao thông, trong khi vẫn duy trì kiểm soát đối với các ngành thông tin, hàng không, vận tải biển, khai thác tài nguyên, năng lượng, bảo hiểm, bất động sản, ngân hàng và quốc phòng. Khi chưa có lợi thế vượt trội trong lĩnh vực công nghệ cao, Trung Quốc tập trung phát triển các ngành sử dụng nhiều lao động để tận dụng lợi thế cạnh tranh sẵn có. Đồng thời, nước này vẫn chú trọng phát triển các ngành công nghiệp chủ chốt như sản xuất thiết bị thông tin, phương tiện giao thông, luyện kim, cũng như đẩy mạnh khai thác dầu khí và vận tải hàng không.

Bên cạnh đó, Trung Quốc đã triển khai nhiều biện pháp trọng tâm để thúc đẩy chiến lược thương mại bền vững:

- Nâng cấp ngành sản xuất: quốc gia này tập trung nâng cao giá trị công nghệ trong các sản phẩm xuất khẩu nhằm gia tăng chuỗi giá trị nội địa và đẩy mạnh hàm lượng công nghệ. Để đạt được điều này, một mặt, nước này khuyến khích các doanh nghiệp FDI chuyển cơ sở nghiên cứu và phát triển cùng các công nghệ tiên tiến vào Trung Quốc nhằm tạo hiệu ứng lan tỏa. Mặt khác, doanh nghiệp trong nước được thúc đẩy tận dụng cơ hội từ toàn cầu hóa để đẩy mạnh đổi mới kỹ thuật trên phạm vi quốc tế.

- Nâng cao năng lực cạnh tranh trong thương mại dịch vụ: Mặc dù thương mại hàng hóa của Trung Quốc tăng trưởng mạnh, nhưng thương mại dịch vụ lại chưa phát triển tương xứng. Để cải thiện, Trung Quốc tập trung vào ba hướng chính: (i) Phát triển thương mại dịch vụ bằng cách cải thiện môi trường pháp lý và chính sách hỗ trợ; (ii) Mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng dịch vụ xuất khẩu; (iii) Tận dụng các cơ hội từ hoạt động gia công dịch vụ để đẩy mạnh xuất khẩu trong lĩnh vực này.

- Hoàn thiện hệ thống và cơ chế thương mại bền vững: Trung Quốc chủ động tham gia các đàm phán đa phương và khu vực nhằm duy trì hệ thống thương mại minh bạch, ổn định và tự do hơn. Đồng thời, nước này siết chặt các quy định về môi trường, yêu cầu doanh nghiệp kiểm soát chi phí môi trường, áp dụng các biện pháp như thuế môi trường đối với hàng nhập khẩu, kiểm dịch, chứng nhận và dán nhãn môi trường. Ngoài ra, Trung Quốc cũng chú trọng bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.

- Thiết lập cơ chế quản lý xuất nhập khẩu: Trung Quốc quy định danh mục hàng hóa xuất nhập khẩu có tác động đến môi trường, bao gồm hàng bị cấm, hạn chế hoặc chịu kiểm soát theo hạn ngạch.

- Tăng cường kiểm nghiệm, kiểm dịch hàng hóa: Trung Quốc đưa ra các quy định cụ thể về kiểm nghiệm và kiểm dịch hàng xuất nhập khẩu, phân loại thành các nhóm như hàng miễn kiểm, hàng yêu cầu kiểm dịch bắt buộc vì lý do an toàn vệ sinh, hàng cần cấp phép an toàn chất lượng, cùng các tiêu chuẩn y tế tại cửa khẩu. Các quy định này được áp dụng một cách chặt chẽ để đảm bảo chất lượng và an toàn trong thương mại quốc tế.

Kinh nghiệm của Thái Lan

Thái Lan là một trong những nền kinh tế phát triển nhanh ở khu vực Đông Nam Á, với thương mại đóng vai trò quan trọng trong quá trình tăng trưởng kinh tế. Quốc gia này đã tận dụng tốt các lợi thế về địa lý, nguồn nhân lực và ngành công nghiệp chủ lực để thúc đẩy thương mại.

Chuyển đổi mô hình cơ cấu ngành kinh tế theo hướng xuất khẩu trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực trong thời gian ngắn. Quốc gia này thực hiện chính sách mở cửa kinh tế, ban đầu tập trung vào các đối tác phương Tây, đặc biệt là Mỹ, sau đó mở rộng sang Trung Quốc, Liên bang Nga, các nước ASEAN, châu Phi và Mỹ Latinh. Đồng thời, Thái Lan tham gia vào các tổ chức kinh tế quốc tế và khu vực như WTO, APEC và AFTA nhằm thúc đẩy thương mại và hợp tác kinh tế. Ngoài việc duy trì quan hệ với các đối tác truyền thống là các nước phát triển, Thái Lan còn chú trọng khai thác tiềm năng thị trường của các nước đang phát triển, đặc biệt là ASEAN, Trung Đông, châu Phi và Trung Quốc, trong đó ASEAN và Mỹ Latinh được ưu tiên hàng đầu.

Thái Lan đã thúc đẩy tự do hóa thương mại bằng cách cắt giảm thuế quan và thực hiện chính sách mở cửa đầu tư nước ngoài với nhiều ưu đãi, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài tiếp cận thị trường, bao gồm cả các lĩnh vực như dịch vụ thông tin, vận tải biển, hàng không, đường bộ và du lịch. Nhờ đó, dòng vốn FDI chảy vào Thái Lan tăng mạnh, kéo theo sự gia tăng đáng kể của đầu tư trong nước, dẫn đến sự thay đổi nhanh chóng trong cơ cấu đầu tư. Kinh tế Thái Lan cũng có sự chuyển dịch từ các ngành sử dụng nhiều lao động sang các ngành có hàm lượng kỹ thuật cao, đặc biệt là công nghiệp chế biến. Để thu hút FDI, Thái Lan đã đẩy mạnh cải thiện môi trường pháp lý, đồng thời thực hiện chính sách ưu đãi theo hướng trải thảm đỏ cho các nhà đầu tư nước ngoài.

Chính sách sản phẩm của Thái Lan được xây dựng nhằm tận dụng lợi thế so sánh trong thương mại quốc tế. Quốc gia này đã đa dạng hóa danh mục hàng xuất khẩu, vừa khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên và lực lượng lao động dồi dào, vừa tận dụng các cơ hội trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Hiện nay, Thái Lan tập trung phát triển các ngành công nghệ cao như điện tử và thiết bị điện dân dụng. Ngoài thương mại hàng hóa, Thái Lan cũng tập trung phát triển thương mại dịch vụ, đặc biệt là du lịch, tài chính và logistics, phát triển ngành du lịch bền vững là một trong những điểm đến du lịch hàng đầu thế giới. Chính phủ thúc đẩy mô hình du lịch sinh thái, du lịch văn hóa để thu hút du khách quốc tế mà vẫn đảm bảo bảo vệ tài nguyên tự nhiên. Thái Lan ngày càng hội nhập với thế giới, giúp hỗ trợ thương mại và đầu tư quốc tế. Chính phủ đầu tư mạnh vào cơ sở hạ tầng giao thông, nâng cấp cảng biển, sân bay và đường cao tốc để tối ưu hóa chuỗi cung ứng thương mại.

Tuy nhiên, trong quá trình phát triển Thái Lan ưu tiên tăng trưởng kinh tế mà chưa chú trọng đúng mức đến bảo vệ môi trường, dẫn đến nhiều thách thức nghiêm trọng như suy giảm đa dạng sinh học, ô nhiễm nguồn nước và môi trường đô thị. Một số chính sách khuyến khích xuất khẩu và thu hút FDI đã góp phần gây ra các vấn đề này. Nhận thức được thực trạng đó, Thái Lan đã triển khai nhiều biện pháp nhằm bảo vệ môi trường và nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng xuất khẩu, đặc biệt là thủy sản, rau quả và dệt may. Quốc gia này hiện là một trong những nhà xuất khẩu chính các mặt hàng tôm và cá hồi vào các thị trường có tiêu chuẩn môi trường khắt khe như Mỹ, Nhật Bản và EU. Để đảm bảo chất lượng sản phẩm, Thái Lan đã thành lập nhiều trung tâm kiểm soát dư lượng độc tố và giám sát việc sử dụng thuốc phòng bệnh trong nuôi trồng thủy sản. Dù từng phản đối lệnh cấm nhập khẩu cá ngừ từ Mỹ và đạt được một số kết quả tích cực, chính phủ Thái Lan vẫn khuyến khích ngư dân áp dụng các phương pháp đánh bắt thân thiện với môi trường, hạn chế tác động đến các loài động vật biển như rùa biển. Đồng thời, Chính phủ cũng có chính sách hỗ trợ những ngư dân sử dụng phương thức đánh bắt thủ công nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực đến hệ sinh thái. Ngoài ra, Thái Lan chủ động tham gia nhiều hiệp định quốc tế về môi trường để hưởng các ưu đãi tài chính, đồng thời là một trong những nước đang phát triển tiên phong thực hiện nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền.

Kinh nghiệm của Singapore

Singapore là một trong những nền kinh tế phát triển hàng đầu thế giới, với thương mại đóng vai trò trung tâm trong sự thịnh vượng của quốc gia. Nhờ các chính sách chiến lược và quản trị hiệu quả, Singapore đã xây dựng một hệ thống thương mại hiện đại, bền vững và có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế. Singapore không sở hữu nhiều tài nguyên thiên nhiên ngoài lợi thế cảng nước sâu, nhưng bù lại, quốc gia này có vị trí địa lý chiến lược. Nhờ cơ sở hạ tầng hiện đại, hệ thống chính trị ổn định và các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân cũng như thu hút đầu tư nước ngoài, Singapore đã phát triển mạnh mẽ. Lực lượng lao động chăm chỉ, quan hệ lao động hài hòa cũng góp phần quan trọng giúp Singapore vươn lên trở thành trung tâm thương mại và tài chính quốc tế.

Quá trình công nghiệp hóa từ những năm 1960 đã chuyển đổi nền kinh tế nước này từ hệ thống phân phối hàng hóa sang mô hình kinh tế thị trường đa dạng. Thương mại, đặc biệt là thương mại quốc tế, đóng vai trò cốt lõi trong nền kinh tế Singapore. Quốc gia này đã tận dụng tối đa vị thế cảng trung chuyển quốc tế để phát triển thương mại đối lưu và đạt được nhiều thành công trong nhiều thập kỷ qua. Đây là thành quả từ chiến lược công nghiệp hóa hướng đến xuất khẩu được triển khai từ đầu những năm 1960. Bên cạnh lĩnh vực ngân hàng – tài chính, dịch vụ – viễn thông và du lịch, hoạt động thương mại, đặc biệt là xuất khẩu, đã góp phần quan trọng vào sự mở rộng và hiện đại hóa nền kinh tế.

Thứ nhất, Singapore áp dụng chính sách thương mại cởi mở, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển thương mại của quốc gia. Nhờ đẩy mạnh tự do hóa thương mại và đưa ra các ưu đãi cụ thể, mỗi năm Singapore thu hút lượng vốn đầu tư nước ngoài khổng lồ, đặc biệt từ các tập đoàn kinh tế lớn của Mỹ. Bên cạnh đó, chính phủ Singapore không áp dụng hàng rào phi thuế quan, không trợ cấp giá xuất nhập khẩu, đồng thời đơn giản hóa thủ tục hải quan, giúp quá trình xuất nhập khẩu diễn ra nhanh chóng và thuận lợi. Chính những yếu tố này đã góp phần thúc đẩy mạnh mẽ sự giao thương giữa các doanh nghiệp trong nước với quốc tế, tạo ra môi trường cạnh tranh công bằng giữa doanh nghiệp nội địa và doanh nghiệp nước ngoài.

Ngoài ra, Singapore còn tích cực tham gia vào các tổ chức thương mại toàn cầu, như: WTO, ASEAN, APEC…, đồng thời ký kết nhiều hiệp định hợp tác song phương, góp phần thúc đẩy nền thương mại phát triển nhanh chóng và bền vững.

Thứ hai, Singapore chủ trương đẩy mạnh ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại vào hoạt động xuất nhập khẩu nhằm nâng cao hiệu quả và tối ưu hóa quy trình thương mại. Chính phủ nước này đã tiên phong triển khai các phương thức giao dịch tiên tiến, bao gồm thương mại điện tử, hệ thống cấp phép tự động và đặc biệt là mô hình thương mại không giấy tờ, giúp đơn giản hóa thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian xử lý và giảm thiểu chi phí cho doanh nghiệp. Việc áp dụng các công nghệ hiện đại không chỉ tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước mà còn giúp Singapore duy trì vị thế là một trung tâm thương mại hàng đầu khu vực và thế giới. Nhờ đó, hoạt động xuất nhập khẩu của quốc gia này liên tục tăng trưởng mạnh mẽ, đảm bảo tốc độ luân chuyển hàng hóa nhanh chóng, thúc đẩy tính cạnh tranh và nâng cao hiệu quả thương mại.

Hơn nữa, Chính phủ Singapore không ngừng đầu tư vào hạ tầng công nghệ thông tin và logistics, phát triển các hệ thống quản lý chuỗi cung ứng tiên tiến nhằm tối ưu hóa quá trình giao dịch quốc tế. Điều này giúp các doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận thị trường toàn cầu, nâng cao năng lực cạnh tranh và gia tăng giá trị trong hoạt động thương mại quốc tế.

Thứ ba, để đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế và quá trình công nghiệp hóa diễn ra bền vững, Singapore không chỉ tập trung vào nguồn tài chính dành cho bảo vệ môi trường mà còn chú trọng đến việc tổ chức bộ máy quản lý hiệu quả. Ngay từ những năm 1970, quốc gia này đã thành lập Cục Phòng chống ô nhiễm để kiểm soát chặt chẽ chất lượng không khí, nước và xử lý chất thải rắn. Sau đó, cơ quan này tiếp tục mở rộng phạm vi hoạt động, đảm nhiệm thêm trách nhiệm giám sát, kiểm soát và xử lý các loại hóa chất độc hại nhằm đảm bảo môi trường sống trong lành cho người dân.

Chiến lược bảo vệ môi trường đô thị của Singapore được triển khai một cách bài bản và khoa học, dựa trên 4 trụ cột chính: phòng ngừa, cưỡng chế, kiểm soát và giáo dục. Trong đó, công tác phòng ngừa được thực hiện thông qua quy hoạch sử dụng đất hợp lý, lựa chọn vị trí xây dựng khu công nghiệp một cách thận trọng và áp dụng các tiêu chuẩn nghiêm ngặt trong cấp phép phát triển hạ tầng đô thị. Đồng thời, chính phủ đầu tư mạnh mẽ vào các phương tiện thu gom và xử lý chất thải tiên tiến, đảm bảo hệ thống vận hành hiệu quả và giảm thiểu tối đa tác động tiêu cực đến môi trường. Singapore tiến hành giám sát chặt chẽ chất lượng không khí và nguồn nước, cả trên đất liền lẫn khu vực biển, nhằm kịp thời phát hiện và xử lý các nguy cơ ô nhiễm. Một trong những biện pháp mang tính đột phá của quốc gia này là di dời các nhà máy sử dụng nhiều hóa chất nguy hại ra các hòn đảo riêng biệt hoặc đặt cách xa khu dân cư để hạn chế tối đa rủi ro ô nhiễm và sự cố hóa chất. Không dừng lại ở các biện pháp hành chính và công nghệ, Singapore còn đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân về tầm quan trọng của bảo vệ môi trường. Thông qua các chương trình giáo dục và vận động cộng đồng, chính phủ đã khuyến khích sự tham gia tích cực của người dân vào công tác bảo vệ và quản lý môi trường. Chính nhờ những chính sách đồng bộ và quyết liệt này, Singapore đã thành công trong việc cân bằng giữa phát triển công nghiệp và bảo vệ môi trường đô thị, tạo nên một môi trường sống trong lành, bền vững và đáng mơ ước.

Kinh nghiệm của Đức

Đức là một trong những quốc gia tiên phong trong phát triển thương mại bền vững, kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường. Chính phủ Đức triển khai các chính sách khuyến khích doanh nghiệp sử dụng nguyên vật liệu tái chế trong sản xuất. Theo đó, doanh nghiệp được hỗ trợ tài chính và ưu đãi thuế nếu áp dụng mô hình tuần hoàn, chẳng hạn như tái chế nhựa, kim loại và giấy trong quá trình sản xuất. Các ngành công nghiệp chủ lực như ô tô, hóa chất và dệt may được yêu cầu phải có chiến lược giảm thiểu rác thải công nghiệp, tái sử dụng linh kiện và tối ưu hóa quy trình sản xuất để giảm tiêu hao năng lượng. Hệ thống thu gom và tái chế chất thải của Đức được xây dựng chặt chẽ, với việc áp dụng các công nghệ hiện đại để phân loại rác và xử lý chất thải hiệu quả. Quốc gia này phát triển mạnh các ngành công nghiệp xanh như sản xuất năng lượng tái tạo (điện gió, điện mặt trời), công nghệ pin lưu trữ năng lượng và xe điện. Các sản phẩm xuất khẩu của Đức, đặc biệt là trong lĩnh vực cơ khí, ô tô và thiết bị điện tử, đều phải đáp ứng tiêu chuẩn khắt khe về mức tiêu thụ năng lượng, phát thải CO₂ và khả năng tái chế. Các tập đoàn lớn như BMW, Volkswagen, và Siemens đã đầu tư mạnh vào công nghệ sạch để đảm bảo sản phẩm của họ đáp ứng tiêu chuẩn môi trường quốc tế, qua đó tăng sức cạnh tranh trên thị trường toàn cầu.

Chính phủ Đức khuyến khích doanh nghiệp sử dụng phương tiện vận tải không phát thải hoặc thấp phát thải như xe điện, tàu hỏa chạy bằng năng lượng tái tạo. Phát triển hệ thống logistics xanh với các cảng biển, sân bay và tuyến đường sắt sử dụng năng lượng tái tạo nhằm giảm khí thải nhà kính trong hoạt động thương mại. Các thành phố lớn như: Berlin, Hamburg đã triển khai khu vực không khí sạch (Low Emission Zones), yêu cầu các phương tiện vận chuyển hàng hóa phải đáp ứng tiêu chuẩn khí thải nghiêm ngặt. Quốc gia này yêu cầu tất cả các sản phẩm nhập khẩu, đặc biệt trong lĩnh vực công nghiệp nặng, điện tử và dệt may, phải đáp ứng các tiêu chuẩn nghiêm ngặt về môi trường, như hạn chế sử dụng hóa chất độc hại, giảm phát thải khí nhà kính trong quá trình sản xuất.

Đức áp dụng thuế carbon đối với các ngành công nghiệp có mức phát thải cao, đồng thời đánh thuế mạnh vào các sản phẩm nhập khẩu không đáp ứng tiêu chuẩn môi trường. Các nền tảng thương mại số của Đức như Zalando, Otto đã tích hợp công nghệ AI để tối ưu hóa chuỗi cung ứng và dự đoán nhu cầu hàng hóa, giúp giảm lãng phí tài nguyên. Công nghệ blockchain ũng được ứng dụng trong quản lý chuỗi cung ứng, giúp nâng cao tính minh bạch và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, đặc biệt đối với hàng hóa nông sản và thực phẩm hữu cơ. Kinh nghiệm của Đức cho thấy rằng thương mại bền vững không chỉ là xu hướng mà còn là chiến lược giúp quốc gia duy trì tăng trưởng kinh tế mà không gây hại đến môi trường.

HÀM Ý RÚT RA CHO VIỆT NAM TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI THEO HƯỚNG BỀN VỮNG

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, Việt Nam cần có những chính sách và chiến lược phù hợp để phát triển thương mại theo hướng bền vững. Điều này không chỉ giúp Việt Nam tận dụng được cơ hội từ các hiệp định thương mại tự do (FTA) mà còn đảm bảo sự cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường và phát triển xã hội. Từ kinh nghiệm quốc tế, có thể rút ra một số hàm ý quan trọng nhằm thúc đẩy thương mại bền vững tại Việt Nam như sau:

Một là, cần tiếp tục kiên trì theo đuổi mô hình kinh tế thị trường mở, tăng cường hội nhập kinh tế khu vực và toàn cầu. Trong đó, chiến lược phát triển thương mại cần tập trung vào việc đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp chế biến và công nghiệp chế tạo, tận dụng tối đa lợi thế so sánh của đất nước. Để đảm bảo sự ổn định và bền vững trong thương mại, cần đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, giảm sự phụ thuộc quá mức vào một số thị trường trọng điểm, từ đó hạn chế rủi ro trong trường hợp có biến động kinh tế toàn cầu.

Hai là, chú trọng điều chỉnh cơ cấu ngành kinh tế theo hướng phát triển các ngành có hàm lượng công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn và khả năng thích ứng với tiến trình hội nhập. Việc dịch chuyển từ các ngành sử dụng nhiều lao động giá rẻ sang các ngành có hàm lượng vốn và công nghệ cao sẽ giúp nền kinh tế Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh và tăng trưởng bền vững hơn. Trong quá trình này, cần lựa chọn những ngành có thế mạnh để mở cửa cạnh tranh quốc tế, đồng thời thực hiện chính sách bảo hộ có chọn lọc, có thời hạn đối với những ngành chiến lược có tiềm năng phát triển trong tương lai.

Ba là, việc thực thi các cam kết quốc tế về thuế quan, giảm rào cản kỹ thuật trong thương mại và từng bước tự do hóa nhập khẩu. Tuy nhiên, do đặc thù nền kinh tế Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn phát triển, cần có chính sách bảo hộ hợp lý đối với một số ngành công nghiệp non trẻ để tránh tình trạng bị hàng hóa nước ngoài lấn át. Chính phủ có thể áp dụng các biện pháp quản lý thương mại minh bạch như chuyển đổi từ hạn ngạch nhập khẩu sang chính sách thuế linh hoạt, qua đó vừa thúc đẩy tự do hóa thương mại, vừa bảo vệ lợi ích kinh tế trong nước.

Bốn là, Việt Nam cần có chiến lược khai thác hiệu quả cả nguồn lực trong nước và bên ngoài để tối ưu hóa lợi ích từ hội nhập kinh tế. Trong quá trình này, vai trò của các tổ chức kinh tế khu vực và quốc tế, cũng như các tập đoàn xuyên quốc gia, ngày càng trở nên quan trọng. Chính phủ cần xây dựng các chính sách phù hợp để thu hút đầu tư nước ngoài có chọn lọc, khuyến khích chuyển giao công nghệ và tận dụng tối đa lợi thế của các hiệp định thương mại tự do nhằm thúc đẩy thương mại bền vững.

Năm là, việc ổn định kinh tế vĩ mô cũng là yếu tố then chốt giúp Việt Nam phát triển thương mại bền vững. Cần đầu tư mạnh vào hệ thống kết cấu hạ tầng như giao thông, logistics, năng lượng để hỗ trợ hoạt động thương mại và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Đồng thời, môi trường pháp lý cần được hoàn thiện theo hướng minh bạch, nhất quán và tạo điều kiện bình đẳng cho tất cả các thành phần kinh tế. Việt Nam cũng cần đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghệ, quản lý kinh tế và ngoại thương để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường lao động quốc tế.

Sáu là, để đảm bảo phát triển thương mại theo hướng bền vững, Việt Nam cần lồng ghép các yếu tố môi trường vào chính sách thương mại ngay từ giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa. Điều này bao gồm việc áp dụng các tiêu chuẩn xanh trong xuất nhập khẩu, kiểm soát ô nhiễm công nghiệp và khuyến khích doanh nghiệp chuyển đổi sang mô hình sản xuất sạch. Các chính sách môi trường cần được xây dựng theo hướng hỗ trợ tăng trưởng kinh tế nhưng đồng thời hạn chế tối đa những rào cản không cần thiết đối với tự do thương mại./.

Tài liệu tham khảo

1. Acemoglu, D., Robinson, J. A. (2012), Why nations fail: The origins of power, prosperity, and poverty, Crown Publishing Group-A Division of Random House, Inc.

2. Beder, S. (1994), The role of technology in sustainable development, IEEE Technology and Society Magazine, 13(4), 14–19.

3. Dương Thị Tình (2015), Phát triển thương mại bền vững trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, Luận án tiến sĩ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân.

4. Hà Văn Sự và cộng sự (2004), Những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển thương mại theo tiếp cận phát triển bền vững trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, Đề tài khoa học cấp bộ, Mã số B2003-39-36.

5. Hà Văn Sự, Lê Nguyễn Diệu Anh (2021), Các yếu tố tác động đến phát triển thương mại đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững ở Việt Nam, Tạp chí Khoa học thương mại, 154, 14-27.

6. Hồ Trung Thanh (2009), Xuất khẩu bền vững ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Luận án tiến sĩ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội.

7. Law, K. (2010), Factors affecting sustainability development: High-tech manufacturing firms in Taiwan, Asia Pacific Management Review, 15(4), 619-633.

8. Lê Nguyễn Diệu Anh (2020), Phát triển thương mại theo hướng bền vững ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế, Luận án tiến sĩ kinh tế, Trường Đại học Thương mại.

9. Porter, M. (1990), The competitive advantage of nations, Free Press.

10. United Nations World Summit (2005), 2005 world summit outcome, resolution A/60/1, Retrieved July 2, 2013, truy cập từ http://data.unaids.org/Topics/UniversalAccess/worldsummitoutcome_resolution_24oct2005_en.pdf.

11. World Bank (1997), World development report: The state in a changing world.

12. Wu, X. Y. (2003), Intrinsic motivation and young language learners: The impact of the classroom environment, System, 31(4), 501-517.

13. Zollinger, U., Zollinger, K. (2007), The effects of globalization on sustainable development and the challenges to global governance, Swiss Agency for Development and Cooperation.

Ngày nhận bài: 15/01/2025; Ngày phản biện: 20/02/2025; Ngày duyệt đăng: 25/02/2025