Thảo luận và đề xuất hướng nghiên cứu về tác động của chất lượng thể chế và bất định chính sách kinh tế toàn cầu đến tăng trưởng tín dụng ngân hàng
Hồ Văn Tài
Trường Đại học Kinh tế Công nghiệp Long An
NCS. Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh
Email: simon.ho.longan@gmail.com
Tóm tắt
Chất lượng thể chế và bất định chính sách kinh tế toàn cầu có ảnh hưởng quan trọng đến tăng trưởng tín dụng ngân hàng. Khi môi trường thể chế chất lượng cao với hệ thống pháp lý minh bạch, quản lý rủi ro hiệu quả sẽ giúp ngân hàng tăng trưởng tín dụng bền vững, giảm thiểu rủi ro nợ xấu và gia tăng hiệu quả phân bổ vốn. Ngược lại, chất lượng thể chế kém có thể dẫn đến tăng trưởng tín dụng thiếu kiểm soát, gây bất ổn tài chính nền kinh tế. Bài nghiên cứu tập trung giới thiệu và lược khảo tổng quan các nghiên cứu về tác động của chất lượng thể chế và bất định chính sách đối với tăng trưởng tín dụng, cũng như chỉ ra các khoảng trống trong nghiên cứu, từ đó, đề xuất một số hướng nghiên cứu liên quan để lấp đầy, góp phần thúc đẩy tăng trưởng tín dụng bền vững trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đầy biến động.
Từ khóa: chất lượng thể chế, bất định chính sách kinh tế, tín dụng ngân hàng
Summary
Institutional quality and global economic policy uncertainty significantly impact bank credit growth. A high-quality institutional environment with a transparent legal system and effective risk management will help banks achieve sustainable credit growth, minimize Bad debt risks and increase capital allocation efficiency. On the contrary, poor institutional quality can lead to uncontrolled credit growth, causing financial instability in the economy. The paper focuses on introducing and summarizing studies on the impact of institutional quality and policy uncertainty on credit growth and pointing out research gaps, therefore proposing several related research directions to fill them, promoting sustainable credit growth in a volatile global economy.
Keywords: institutional quality, economic policy uncertainty, bank credit
GIỚI THIỆU
Ngân hàng đóng vai trò trung gian tài chính quan trọng, thúc đẩy lưu thông vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế (Rose và Hudgins, 2008). Trong đó, hoạt động tín dụng ngân hàng (TDNH) là một kênh cung cấp vốn quan trọng cho các chủ thể kinh tế nhằm phục vụ sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng. TDNH trở thành kênh truyền dẫn ảnh hưởng của các cú sốc kinh tế vĩ mô đến hệ thống ngân hàng (Nguyen và cộng sự, 2020). Tuy nhiên, tăng trưởng TDNH không chỉ chịu tác động của các yếu tố kinh tế, mà còn bị ảnh hưởng bởi chất lượng thể chế (CLTC) và bất định chính sách. Khi môi trường thể chế kém phát triển, nền kinh tế thiếu ổn định, thì hệ thống ngân hàng sẽ phải đối mặt với nhiều rủi ro, như: nợ xấu tăng, hiệu quả tín dụng giảm sút... Keynes (1936) nhấn mạnh rằng, việc mở rộng tín dụng giúp tăng chi tiêu cho tiêu dùng và đầu tư, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tăng trưởng TDNH chính là CLTC. Các nghiên cứu của Alraheb và cộng sự (2019), Awdeh và El-Moussawi (2021) đều khẳng định, CLTC có tác động mạnh đến hệ thống tài chính. Môi trường thể chế kém có thể làm giảm hiệu quả hoạt động ngân hàng, tăng chi phí giao dịch, làm suy yếu khả năng thực thi hợp đồng và tạo điều kiện cho các hành vi gian lận. Ngược lại, môi trường thể chế chất lượng cao giúp cải thiện tính minh bạch, giảm thiểu rủi ro đạo đức và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. CLTC có ảnh hưởng đến cấu trúc tín dụng của ngân hàng theo nhiều cách: (1) Tác động đến mức độ an toàn và ổn định của hệ thống tài chính. Khi thể chế yếu kém, ngân hàng có xu hướng thận trọng hơn trong việc cấp tín dụng do lo ngại về khả năng thu hồi vốn (Bae và Goyal, 2009); (2) Trong môi trường thể chế yếu, các ngân hàng có thể mở rộng tín dụng theo hướng rủi ro hơn. Damania và cộng sự (2004) chỉ ra rằng, trong những quốc gia có CLTC thấp, ngân hàng thường dễ bị ảnh hưởng bởi các hành vi tham nhũng và chính sách ưu đãi đặc biệt. Điều này có thể dẫn đến tình trạng cấp tín dụng tràn lan, mà không đảm bảo các tiêu chí về an toàn vốn, làm gia tăng nguy cơ khủng hoảng tài chính; (3) CLTC cũng ảnh hưởng đến sự minh bạch và khả năng giám sát hoạt động ngân hàng. Bermpei và cộng sự (2018) chỉ ra rằng, khi môi trường pháp lý thiếu minh bạch, ngân hàng có thể gặp khó khăn trong việc đánh giá rủi ro tín dụng, dễ bị tổn thương trước những cú sốc kinh tế. Ngược lại, ngân hàng có thể áp dụng các mô hình quản lý rủi ro hiệu quả hơn, nâng cao chất lượng tín dụng và giảm thiểu nguy cơ nợ xấu.
Bên cạnh đó, bất định trong chính sách kinh tế cũng là một yếu tố quan trọng tác động đến hoạt động tín dụng. Keynes (1936) đã nhấn mạnh rằng, khi nền kinh tế đối mặt với sự bất định cao, ngân hàng có xu hướng hạn chế cấp tín dụng để tránh rủi ro. Nguyen và cộng sự (2020) sử dụng các chỉ số đo lường bất định chính sách kinh tế để đánh giá tác động của yếu tố này đến tăng trưởng TDNH và nhận thấy rằng, mức độ bất định càng cao, ngân hàng càng có xu hướng thận trọng hơn trong hoạt động cho vay. Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế, CLTC ngày càng trở thành yếu tố quyết định sự phát triển bền vững của hệ thống ngân hàng. Trong bối cảnh này, việc nghiên cứu về các tác động của CLTC và bất định chính sách kinh tế toàn cầu đến tăng trưởng TDNH là rất cần thiết. Đây cũng là mục tiêu của bài viết nhằm giới thiệu khung lý thuyết về CLTC, bất định chính sách và tăng trưởng TDNH, qua đó, gợi ý hướng nghiên cứu đánh giá tác động của chúng đến tăng trưởng TDNH và đưa ra một số hàm ý quản trị cho Chính phủ, các nhà hoạch định chính sách tại Việt Nam trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đầy biến động hiện nay. Đây là tiền đề cho các nghiên cứu tiếp theo, góp phần đưa ra được mô hình nghiên cứu và đánh giá được các tác động của các yếu tố này đối với tăng trưởng TDNH.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Cơ sở lý thuyết
Khái niệm Chất lượng thể chế
Thể chế là khái niệm có nhiều định nghĩa khác nhau trong học thuật. Theo Acemoglu và cộng sự (2001), thể chế bao hàm việc thực thi quyền lực và quản lý của nhà nước nhằm kiểm soát các hành vi tiêu cực (như tham nhũng) nhằm mục đích tăng trưởng kinh tế và quản lý xã hội tốt hơn. Nhìn chung, thể chế là yếu tố phản ánh quyền lực của chính phủ, tác động đến nền kinh tế và các thành phần trong xã hội, được thể hiện các văn bản hành chính thể hiện ý chí chính phủ, dùng để chỉ đạo cấp dưới. Connolly và James (2006) cho rằng, CLTC tốt tạo ra môi trường thuận lợi thúc đẩy các hoạt động kinh tế đổi mới, tăng trưởng và phát triển. Ngược lại, CLTC kém có thể dẫn đến trì trệ kinh tế. CLTC có tầm quan trọng to lớn trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế (North, 1990). Tóm lại, có thể hiểu CLTC là tình trạng của thể chế, tác động đến môi trường kinh tế quốc gia.
Đo lường chất lượng thể chế
Có nhiều chỉ tiêu để đo lường CLTC, nhưng chỉ số được sử dụng nhiều nhất trong nghiên cứu về chất lượng thể chế là Chỉ số quản trị toàn cầu (Wordwide Goverance Indicator - WGI) của Ngân hàng thế giới. WGI do Kaufmann và các cộng sự của ông xây dựng vào năm 2006, bao gồm hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ, với 273 biến số cấu thành và được phân loại thành 6 chỉ số tổng hợp (Kaufmann và cộng sự, 2010), cụ thể như sau:
(1) Kiểm soát tham nhũng (CC): Chỉ số này nắm bắt nhận thức về mức độ, mà quyền lực công được thực thi vì lợi ích cá nhân, bao gồm cả các hình thức tham nhũng nhỏ và lớn và việc giới tinh hoa và lợi ích tư nhân “chiếm đoạt” nhà nước.
(2) Hiệu quả của Chính phủ (GE): Chỉ số này phản ánh nhận thức về chất lượng của hệ thống quan liêu, chất lượng của dịch vụ công và mức độ độc lập của nó trước các áp lực chính trị, chất lượng của việc xây dựng và thực thi chính sách và độ tin cậy cam kết của Chính phủ với các vấn đề đó.
(3) Ổn định chính trị và không có bạo lực/khủng bố (PV): Chỉ số này phản ánh nhận thức về khả năng Chính phủ sẽ bị mất ổn định hoặc bị lật đổ bằng các biện pháp vi hiến hoặc bạo lực, bao gồm: bạo lực và khủng bố có động cơ chính trị.
(4) Chất lượng quy định (RQ): Chỉ số này phản ánh nhận thức về khả năng của Chính phủ trong việc xây dựng và thực hiện các chính sách và quy định hợp lý cho phép và thúc đẩy các chính sách phát triển khu vực tư nhân.
(5) Pháp quyền (RL): Chỉ số này nắm bắt nhận thức về mức độ, mà các đại lý tin tưởng và tuân thủ các quy tắc của xã hội và đặc biệt là chất lượng thực thi hợp đồng, quyền tài sản, cảnh sát, tòa án và khả năng xảy ra các chính sách về tội phạm, bạo lực.
(6) Tiếng nói và trách nhiệm giải trình (VA): Chỉ số này nắm bắt nhận thức về mức độ, mà công dân của một quốc gia có thể tham gia vào việc lựa chọn chính phủ của họ và tự do ngôn luận, tự do lập hội và tự do truyền thông.
Khái niệm bất định chính sách kinh tế toàn cầu
Một trong những yếu tố bất định được đề cập nhiều trong các nghiên cứu về hoạt động ngân hàng kể từ sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2008 là bất định chính sách kinh tế (Economic Policy Uncertainty - EPU), trong đó, có bất định chính sách kinh tế toàn cầu (Global Economic Policy Uncertainty - GEPU). Theo Wu và cộng sự (2020), EPU được phản ánh qua các thay đổi trong quá trình điều hành chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa, dẫn đến biến động các chỉ tiêu kinh tế, như: lạm phát, tăng trưởng kinh tế, thất nghiệp..., GEPU là yếu tố phản ánh quá trình điều hành kinh tế thiếu sự nhất quán, thường xuyên thay đổi chính sách ban hành của chính phủ các quốc gia lớn trên thế giới (Danisman và cộng sự, 2020). GEPU là rủi ro kinh tế liên quan đến các chính sách và khuôn khổ quy định của chính phủ trong tương lai chưa được xác định (Demir và Ersan, 2017).
Đo lường bất định chính sách kinh tế toàn cầu
Có nhiều chỉ tiêu để đo lường EPU, nhưng khi nghiên cứu về bất định chính sách kinh tế toàn cầu, thì chỉ số được sử dụng phổ biến chính là GEPU được xây dựng bởi Baker và cộng sự (2016) như sau:
(1) Sử dụng dữ liệu báo chí: Thu thập thông tin từ hơn 2.000 tờ báo và tạp chí trên toàn thế giới, bao gồm các bài viết liên quan đến kinh tế, chính trị và tài chính.
(2) Xác định các từ khóa: Xác định một tập hợp các từ khóa liên quan đến kinh tế, chính trị và không chắc chắn về chính sách, bao gồm: "khủng hoảng", "suy thoái", "chính sách", "bất ổn", "không chắc chắn", "lạm phát", "thương mại" và nhiều từ khóa khác.
(3) Tính toán chỉ số EPU: Dựa trên dữ liệu báo chí và các từ khóa được xác định, nhóm nghiên cứu tính toán một chỉ số EPU (bao gồm việc đếm số lượng bài viết chứa các từ khóa liên quan đến không chắc chắn về chính sách trong mỗi quốc gia và mỗi thời điểm).
(4) Chuẩn hóa và tổng hợp dữ liệu: Chỉ số EPU được chuẩn hóa để đảm bảo tính nhất quán và so sánh được giữa các quốc gia và thời điểm khác nhau. Sau đó, được tổng hợp thành một chỉ số EPU tổng thể.
Dựa trên chỉ số EPU của mỗi quốc gia, Baker và cộng sự (2016) đã phát triển chỉ số GEPU là chỉ số trung bình theo GDP của các chỉ số EPU quốc gia cho 21 quốc gia, như: Úc, Canada, Pháp, Đức, Ireland, Ý, Nhật Bản, Hà Lan, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Vương quốc Anh và Hoa Kỳ và các quốc gia mới nổi (Brazil, Trung Quốc, Hy Lạp, Ấn Độ,…). Kế đến, nhóm tác giả tính tỷ trọng của mỗi quốc gia trong chỉ số GEPU phụ thuộc vào tỷ trọng GDP của nước đó trong tổng GDP.
Khái niệm tăng trưởng tín dụng ngân hàng
Tín dụng có thể hiểu là sự chuyển nhượng tạm thời lượng giá trị từ người sở hữu sang người sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định và áp dụng nguyên tắc hoàn trả một lượng lớn hơn giá trị ban đầu (Lê Thị Tuyết Hoa và Đặng Văn Dân, 2017). Trong nền kinh tế có nhiều lĩnh vực và nhiều chủ thể khác nhau, tín dụng được chia làm nhiều loại hình phù hợp với từng đối tượng và chủ thể của nền kinh tế. Theo Danisman và cộng sự (2020), tăng trưởng tín dụng là tốc độ gia tăng tổng dư nợ cho vay của các tổ chức tín dụng trong một thời kỳ nhất định. Tăng trưởng TDNH có thể hiểu là việc các ngân hàng đẩy mạnh cấp tín dụng cho các chủ thể trong nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định.
Đo lường tăng trưởng tín dụng ngân hàng
Để đo lường tăng trưởng TDNH có 2 hướng tiếp cận, bao gồm: (1) Dựa trên dữ liệu ở cấp độ ngân hàng riêng lẻ (bank - level) và (2) Dựa trên dữ liệu hệ thống (country - level) (Bordo và cộng sự 2016). Để đánh giá ảnh hưởng của 2 yếu tố vĩ mô là GEPU và CLTC, nghiên cứu tập trung lược khảo cách thức đo lường tăng trưởng TDNH ở cấp độ hệ thống như cách làm của Nguyen và cộng sự (2020) để đảm bảo tính phù hợp giữa cácdữ liệu nghiên cứu. Mô hình đo lường như sau:
Tốc độ tăng trưởng TDNH = ΔLog [Tín dụng tư nhân của ngân hàng nhận tiền gửi so với GDP (%) * GDP]
Phương pháp nghiên cứu
Bài viết sử dụng phương pháp định tính, bao gồm thống kê mô tả, thu thập, tổng hợp và lược khảo các số liệu và thông tin từ các kênh thông tin như sách, báo và các nghiên cứu liên quan. Các dữ liệu thứ cấp về hệ thống ngân hàng và các yếu tố vĩ mô của các quốc gia được thu thập từ Global Financial Development Database của World Bank; (2) Các chỉ số bất định chính sách kinh tế toàn cầu trong bài được áp dụng theo chỉ số World uncertainty index công bố trên website https://www.policyuncertainty.com/.
TÁC ĐỘNG CỦA CLTC, BẤT ĐỊNH CHÍNH SÁCH KINH TẾ TOÀN CẦU ĐẾN TĂNG TRƯỞNG TDNH
Tăng trưởng tín dụng có thể phản ánh sự phát triển tài chính, trong đó nghiên cứu về mối quan hệ giữa tài chính và tăng trưởng kinh tế đóng vai trò quan trọng. Việc xem xét sự bùng nổ và sụp đổ tín dụng, đặc biệt trong các giai đoạn kinh tế biến động là cần thiết. Các nghiên cứu trước đây đưa ra nhiều mô hình lý thuyết giải thích nhu cầu tín dụng với các yếu tố ảnh hưởng chính như GDP, chỉ số giá và lãi suất. Tuy nhiên, chưa có mô hình chuẩn để đánh giá động lực tín dụng và tác động đến nền kinh tế, nhất là ở các nước thành viên mới của EU.
Tình trạng tài chính của ngân hàng (kênh cho vay ngân hàng) và của người vay ảnh hưởng đến nguồn cung tín dụng. Phát triển tài chính có thể tác động tích cực đến tăng trưởng GDP. Các nguyên nhân chính dẫn đến bùng nổ tín dụng gồm: (i) Chu kỳ kinh tế khi nền kinh tế tăng trưởng mạnh làm gia tăng nhu cầu tín dụng; (ii) Tự do hóa tài chính khiến tín dụng tăng đột biến; (iii) Dòng vốn nước ngoài gia tăng đột ngột kích thích cho vay; (iv) Cú sốc tài sản khi cải cách kinh tế làm thay đổi giá trị tài sản và tác động đến thị trường tín dụng. Ngoài ra, chính sách kinh tế không ổn định, như: duy trì tỷ giá hối đoái cố định, có thể khiến tín dụng tăng trưởng không bền vững. Yếu tố tâm lý và kỳ vọng cũng đóng vai trò quan trọng: Khi giá trị tài sản tăng, người sở hữu có xu hướng vay nhiều hơn do giá trị ròng của họ tăng lên. Tuy nhiên, nếu giá tài sản bị thổi phồng bởi kỳ vọng không thực tế hoặc nền kinh tế suy giảm, tín dụng có thể trở nên không bền vững, dẫn đến khủng hoảng.
Nghiên cứu về tăng trưởng tín dụng còn xem xét vai trò của tín dụng trong việc truyền tải chính sách tiền tệ. Cơ chế này dựa trên mối quan hệ giữa giá trị tài sản ròng của người vay và chi phí tài chính mà họ phải chịu. Các nghiên cứu thực nghiệm chủ yếu phân biệt nhu cầu tín dụng giữa hộ gia đình và doanh nghiệp phi tài chính, trong khi số ít nghiên cứu tổng cầu tín dụng của khu vực tư nhân, tiêu biểu, như: nghiên cứu của Calza và cộng sự (2003) về khu vực đồng Euro. Một số nghiên cứu về kênh tín dụng tại các quốc gia thành viên mới của EU đã được thực hiện, như: nghiên cứu của Juks (2004) tại Estonia hay Hurlin và Kierzenkowski (2002) cùng Wrobel và Pawlowska (2002) tại Ba Lan.
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Chủ đề nghiên cứu về tăng trưởng TDNH luôn thu hút sự quan tâm, đặc biệt từ sau cuộc khủng hoảng kinh tế 2008, bắt nguồn từ sự tăng trưởng TDNH. Các nghiên cứu thực nghiệm chỉ ra rằng, nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng TDNH bao gồm: yếu tố toàn cầu qua GEPU, các yếu tố phản ánh đặc điểm nền kinh tế, như: GDP, lạm phát và đặc điểm của hệ thống ngân hàng. Ngoài ra, sự quản lý của Chính phủ thông qua CLTC cũng có ảnh hưởng đến tăng trưởng TDNH. Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu về tác động của CLTC và sự bất định trong chính sách kinh tế đến tăng trưởng TDNH vẫn chưa thống nhất. Đây là một chủ đề nghiên cứu quan trọng trong khoa học kinh tế, vì nó ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế quốc gia.
Dựa trên lược khảo nghiên cứu, có thể thấy, ảnh hưởng đồng thời của CLTC, EPU đến tăng trưởng tín dụng ngân hàng được thực hiện trong nghiên cứu của Shabir và cộng sự (2022). Trong đó, nhóm tác giả xem xét tác động phi tuyến tính của EPU đối với hoạt động cho vay của ngân hàng. Nhóm tác giả sử dụng dữ liệu bảng cấp ngân hàng của 19 quốc gia trong giai đoạn 2006-2018 để phân tích, kết quả cho thấy rằng, EPU làm giảm hoạt động cho vay của ngân hàng, nhưng tác động này khác nhau giữa các ngân hàng và cấu trúc thị trường và cao hơn đáng kể trong thời kỳ khủng hoảng tài chính. Các kết quả kiểm tra tính vững bền chỉ ra, CLTC làm tăng hoạt động cho vay của ngân hàng và giảm thiểu sự không chắc chắn của bất định chính sách kinh tế, trong khi các quy định nghiêm ngặt của ngân hàng làm tăng tác động tiêu cực này. Kết quả này cho thấy, vai trò điều tiết của CLTC đến hoạt động cho vay của ngân hàng. Mặc dù vậy, nhóm tác giả chỉ tập trung vào tăng trưởng TDNH ở 19 quốc gia có chỉ số EPU, mà chưa mở rộng phạm vi với số lượng quốc gia lớn. Đồng thời, cũng chưa đánh giá yếu tố môi trường toàn cầu thông qua GEPU đến tăng trưởng TDNH.
Nghiên cứu Choi và cộng sự (2021) nhận thấy rằng, CLTC là yếu tố quan trọng có thể làm giảm ảnh hưởng bất lợi của EPU đối với ổn định tài chính. Sự không chắc chắn của chính sách kinh tế gây ra những xáo trộn trong hệ thống tài chính, làm trầm trọng thêm vấn đề thông tin bất cân xứng. Khi điều này xảy ra, các tổ chức tài chính không thể chuyển vốn một cách hiệu quả cho những tổ chức có triển vọng đầu tư sinh lời cao nhất. Trong trường hợp này, khi CLTC được cải thiện có thể giảm đáng kể khả năng thiếu hiệu quả của các vấn đề thông tin bất đối xứng này.
Các nghiên cứu Shabir và cộng sự (2021), Uddin và cộng sự (2020) cho rằng, các chỉ số CLTC tốt hơn góp phần đáng kể vào việc giảm thiểu rủi ro ngân hàng, giúp duy trì sự ổn định. Ảnh hưởng của CLTC đến hoạt động cho vay của NH cũng được chứng minh qua nghiên cứu của Schiantarelli và cộng sự (2020). Nghiên cứu Moudud-Ul-Huq và Akter (2024) tìm thấy một mối quan hệ tích cực giữa EPU và các ngân hàng chấp nhận rủi ro, mối quan hệ tiêu cực giữa CLTC và hành vi chấp nhận rủi ro của ngân hàng. Nghiên cứu này cũng có một phát hiện đáng chú ý và khác biệt với Uddin và cộng sự (2020), đó là một trong những chỉ số quan trọng trong đo lường CLTC (qua tiếng nói và trách nhiệm giải trình) đã tác động tiêu cực đến hành vi chấp nhận rủi ro của ngân hàng.
Nhìn chung, có nhiều nghiên cứu về chủ đề này cung cấp bằng chứng thực nghiệm về ảnh hưởng của CLTC và EPU đến tăng trưởng TDNH tại các quốc gia có chỉ số EPU. Tuy nhiên, tác giả chưa tìm thấy bằng chứng thực nghiệm nào đánh giá tác động của GEPU và CLTC đến tăng trưởng TDNH ở các quốc gia trên thế giới.
ĐỀ XUẤT HƯỚNG NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
Dưới đây, tác giả đề xuất hướng nghiên cứu liên quan về vấn đề này trên cơ sở khảo lược và tổng quan các nghiên cứu trước, cụ thể như sau:
Thứ nhất, các nghiên cứu về yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng TDNH được chia thành 2 hướng tiếp cận gồm: (1) Tập trung đánh giá các nhân tố thuộc về đặc điểm ngân hàng, môi trường hoạt động đến tăng trưởng TDNH bao gồm môi trường trong nước và môi trường toàn cầu; (2) Vai trò quản lý của Chính phủ thông qua CLTC. Trong quá trình khảo lược, nhóm tác giả chưa thấy có nghiên cứu nào đánh giá tác động đồng thời giữa các yếu tố thuộc về CLTC và GEPU có ảnh hưởng đến tăng trưởng TDNH.
Thứ hai, Ngân hàng Trung ương là cơ quan quản lý tăng trưởng TDNH. Một số quốc gia sử dụng giới hạn tăng trưởng TDNH như công cụ chính sách tiền tệ, áp dụng ở các quốc gia, như: Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản, Úc và các nước Bắc Âu. Giới hạn này nhằm điều tiết mức tăng trưởng TDNH để đảm bảo mục tiêu tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán qua giới hạn room tín dụng. Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào đánh giá tác động của việc sử dụng giới hạn tăng trưởng tín dụng và các công cụ khác của Ngân hàng Trung ương đối với tăng trưởng TDNH.
Trong môi trường kinh tế bất ổn hiện nay, nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng TDNH rất quan trọng. Các nghiên cứu tiếp theo cần đánh giá tác động đồng thời của GEPU và CLTC đến tăng trưởng TDNH, cũng như tác động của các công cụ của Ngân hàng Trung ương đối với tăng trưởng TDNH trong các quốc gia khác nhau./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Acemoglu, D., Johnson, S., AND Robinson, J. A. (2001), The colonial origins of comparative development: An empirical investigation, American economic review, 91(5), 1369-1401.
2. Alraheb, T. H., Nicolas, C., and Tarazi, A. (2019), Institutional environment and bank capital ratios, Journal of Financial Stability, 43, 1-24.
3. Awdeh, A., and El-Moussawi, C. (2022), Capital requirements, institutional quality and credit crunch in the MENA region, International Journal of Emerging Markets, 17(8), 1909-1925.
4. Bae, K. H., and Goyal, V. K. (2009), Creditor rights, enforcement, and bank loans, The Journal of Finance, 64(2), 823-860.
5. Baker, S. R., Bloom, N., and Davis, S. J. (2016), Measuring economic policy uncertainty, The quarterly journal of economics, 131(4), 1593-1636.
6. Bermpei, T., Kalyvas, A., and Nguyen, T. C. (2018), Does institutional quality condition the effect of bank regulations and supervision on bank stability? Evidence from emerging and developing economies, International Review of Financial Analysis, 59, 255-275.
7. Bordo, M. D., Duca, J. V., and Koch, C. (2016). Economic policy uncertainty and the credit channel: Aggregate and bank level US evidence over several decades, Journal of Financial stability, 26, 90-106.
8. Calza, A., Manrique, M., and Sousa, J. (2003), Aggregate loans to the euro area private sector, 202, ECB Working paper.
9. Connolly, M., and James, C. (2006), Collaboration for school improvement: A resource dependency and institutional framework of analysis, Educational Management Administration & Leadership, 34(1), 69-87.
10. Choi, S., Furceri, D., and Yoon, C. (2021), Policy uncertainty and foreign direct investment, Review of International Economics, 29(2), 195-227.
11. Damania, R., Fredriksson, P. G., and Mani, M. (2004), The persistence of corruption and regulatory compliance failures: theory and evidence, Public choice, 121(3), 363-390.
12. Danisman, G. O., Ersan, O., and Demir, E. (2020), Economic policy uncertainty and bank credit growth: Evidence from European banks, Journal of Multinational Financial Management, 57, 100653.
13. Demir, E., and Ersan, O. (2017), Economic policy uncertainty and cash holdings: Evidence from BRIC countries, Emerging Markets Review, 33, 189-200.
14. Hurlin, C., and Kierzenkowski, R. (2002), A theoretical and empirical assessment of the bank lending channel and loan market disequilibrium in Poland, National Bank of Poland.
15. Juks, R. (2004), The importance of the bank-lending channel in Estonia: evidence from micro-economic data.
16. Kaufmann, D., Kraay, A., and Mastruzzi, M. (2010), Response to ‘What do the worldwide governance indicators measure?, The European Journal of Development Research, 22, 55-58.
17. Keynes, J. M. (1936), The supply of gold, The Economic Journal, 46(183), 412-418.
18. Lê Thị Tuyết Hoa và Đặng Văn Dân (2017), Giáo trình Lý thuyết tài chính - tiền tệ, Nxb Kinh tế TP. Hồ Chí Minh.
19. Moudud-Ul-Huq, S., and Akter, R. (2024), Impacts of economic policy uncertainty (EPU) and institutional quality (IQ) on bank risk-taking behavior, Kybernetes, 53(3), 1148-1167.
20. North, D. C. (1990), Institutions, institutional change and economic performance, Cambridge university press.
21. Nguyen, C. P., Le, T. H., and Su, T. D. (2020), Economic policy uncertainty and credit growth: Evidence from a global sample, Research in International Business and Finance, 51, 101118.
22. Phan Thị Hoàng Yến và Trần Hải Yến (2022), Giới hạn room tín dụng - Kinh nghiệm điều hành từ Trung Quốc và bài học cho Việt Nam, Tạp chí Thị trường Tài chính - Tiền tệ, số 15.
23. Rose, P. S. and Rudgins, S. C. (2008), Bank Management & Financial Services, 7th Edition, McGraw-Hill International Edition.
24. Schiantarelli, F., Stacchini, M., and Strahan, P. E. (2020), Bank quality, judicial efficiency, and loan repayment delays in Italy, The Journal of Finance, 75(4), 2139-2178.
25. Shabir, M., Jiang, P., Bakhsh, S., and Zhao, Z. (2021), Economic policy uncertainty and bank stability: Threshold effect of institutional quality and competition, Pacific-Basin Finance Journal, 68, 101610.
26. Shabir, M., Jiang, P., Hashmi, S. H., and Bakhsh, S. (2022), Non-linear nexus between economic policy uncertainty and bank lending, International Review of Economics & Finance, 79, 657-679.
27. Uddin, A., Chowdhury, M. A. F., Sajib, S. D., and Masih, M. (2020), Revisiting the impact of institutional quality on post-GFC bank risk-taking: Evidence from emerging countries, Emerging Markets Review, 42, 100659.
28. Wrobel, E., & Pawlowska, M. (2002), Monetary transmission in Poland: some evidence on interest rate and credit channels, NBP Bureau of Macroeconomic Research Working Paper, 24.
29. Wu, J., Yao, Y., Chen, M., and Jeon, B. N. (2020), Economic uncertainty and bank risk: Evidence from emerging economies, Journal of International Financial Markets, Institutions and Money, 68, 101242.
| Ngày nhận bài: 05/02/2025; Ngày phản biện: 14/02/2025; Ngày duyệt đăng: 26/02/2025 |
Bình luận