Cập nhật ngày 24/01/2020 - 09:41:16

           

Nhìn lại 5 năm thực hiện tăng trưởng xanh ở Việt Nam:

Thành tựu và những cơ hội xanh hóa nền kinh tế

- Với phương châm tận dụng triệt để những thành tựu nhảy vọt của cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0, tại Việt Nam, tăng trưởng xanh (TTX) trong những năm qua được xem là cách tiếp cận chiến lược để tái cấu trúc nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và là sự bảo đảm quan trọng để thúc đẩy phát triển bền vững (PTBV).

Tăng trưởng xanh để phát triển bền vững

Ý tưởng về mô hình tăng trưởng xanh xuất hiện từ những năm 1970 do áp lực của cuộc khủng hoảng năng lượng 1972-1973. Tuy nhiên, vấn đề này trở nên cấp bách hơn trong hai thập niên gần đây. Cuối năm 2008, Chương trình Môi trường của Liên hợp quốc (UNEP) đã phát động “Sáng kiến kinh tế xanh” với mục tiêu tăng cường hợp tác quốc tế ứng phó với khủng hoảng tài chính đi đôi với xử lý các vấn đề toàn cầu nhằm hướng tới PTBV của kinh tế thế giới hậu khủng hoảng. Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế của Liên hợp quốc (OECD) sau đó, vào năm 2009 đã ban hành ấn phẩm đầu tiên đề cập đến TTX.

5 năm thực hiện Chiến lược tăng trưởng xanh của Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã có nhiều kết quả tích cực từ xây dựng cơ chế, chính sách đến nhận thức của cộng đồng về tăng trưởng xanh

Mặc dù được nói đến nhiều trong thời gian qua, nhưng cho tới nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về TTX. UNEP cho rằng, một nền kinh tế xanh là nền kinh tế có sự cải thiện về đời sống và công bằng xã hội, đồng thời giảm một cách đáng kể những tổn hại về mặt môi trường và sinh thái. Trong nền kinh tế xanh, tăng trưởng về thu nhập và việc làm được tạo ra thông qua các khoản đầu tư của nhà nước và tư nhân giúp giảm thiểu khí thải CO2, giảm ô nhiễm môi trường, sử dụng hiệu quả năng lượng, tài nguyên và ngăn chặn suy giảm đa dạng sinh học, các dịch vụ hệ sinh thái. Còn theo OECD, TTX là một cách để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế và phát triển trong khi bảo tồn môi trường, ngăn chặn sự mất mát về đa dạng sinh học và giảm thiểu việc sử dụng không bền vững tài nguyên thiên nhiên. Khái niệm “tăng trưởng xanh” lại được Ủy ban Kinh tế - Xã hội khu vực châu Á - Thái Bình Dương của Liên hợp quốc (UNESCAP) định nghĩa là Chiến lược tìm kiếm sự tối đa hóa sản lượng kinh tế và tối thiểu hóa gánh nặng sinh thái. Với cách tiếp cận này, UNESCAP tìm kiếm sự hài hoà trong tăng trưởng kinh tế và bền vững môi trường bằng cách thúc đẩy những thay đổi cơ bản trong sản xuất và tiêu thụ của xã hội.

Tại Việt Nam, TTX được hiểu là “chiến lược thúc đẩy quá trình tái cấu trúc và hoàn thiện thể chế kinh tế theo hướng sử dụng hiệu quả hơn tài nguyên thiên nhiên, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, thông qua tăng cường đầu tư vào đổi mới công nghệ, vốn tự nhiên, công cụ kinh tế, từ đó góp phần ứng phó với biến đổi khí hậu, giảm nghèo và bảo đảm phát triển kinh tế bền vững”.

Tăng trưởng xanh, từ chiến lược tới cơ chế phối hợp và kế hoạch hành động

Được triển khai tại Việt Nam từ năm 2012, TTX được cụ thể hóa thông qua “Chiến lược Quốc gia về tăng trưởng xanh thời kỳ 2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2050” (Chiến lược tăng trưởng xanh) với các nhiệm vụ chiến lược là giảm phát thải khí nhà kính, thúc đẩy xanh hóa sản xuất, xanh hóa lối sống và tiêu dùng bền vững.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư, với vai trò là Cơ quan đầu mối triển khai thực hiện Chiến lược tăng trưởng xanh, được Chính phủ giao trách nhiệm điều phối các hoạt động của các bộ, ngành và địa phương, triển khai thí điểm, rà soát, kiến nghị, điều chỉnh các quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội từ quan điểm PTBV, lồng ghép TTX vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; xây dựng đề án tái cơ cấu nền kinh tế theo hướng TTX; xây dựng và hoàn thiện thể chế, nâng cao nhận thức, hướng dẫn, giám sát, đánh giá, kiểm tra, tổng hợp tình hình thực hiện các mục tiêu của Chiến lược và báo cáo Thủ tướng Chính phủ theo định kỳ. Với vai trò chủ trì này, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng là cơ quan chịu trách nhiệm phối hợp với các bộ, ngành liên quan xác định những nhiệm vụ, dự án trọng điểm trong từng giai đoạn cụ thể trình Thủ tướng Chính phủ xem xét quyết định và phối hợp với Bộ Tài chính và các bộ, ngành liên quan xác định và phân bổ nguồn tài chính trong nước, cũng như điều phối các nguồn tài trợ của nước ngoài, cơ chế chính sách thúc đẩy thực hiện Chiến lược tăng trưởng xanh.

Với việc tận dụng lợi thế so sánh, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế thông qua việc đẩy mạnh tăng trưởng dựa trên việc nghiên cứu và ứng dụng công nghệ hiện đại, phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng thông minh nhằm hiệu quả hóa sử dụng tài nguyên, việc triển khai Chiến lược tăng trưởng xanh trong 5 năm vừa qua đã thu được những thành tựu nổi bật, thể hiện ở những mặt, như: xây dựng thể chế, nâng cao nhận thức, triển khai thực hiện, thúc đẩy huy động nguồn lực nhà nước và tư nhân.

Theo báo cáo đánh giá giữa kỳ thực hiện Chiến lược tăng trưởng xanh của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, điểm nhấn quan trọng của hoạt động xây dựng thể chế cho TTX chính là việc bước đầu hình thành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật từ các nghị quyết của Đảng, Quốc hội cho tới các nghị định, thông tư trong nhiều lĩnh vực triển khai cụ thể. Nổi bật trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về TTX phải kể đến là Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 03/06/2013 của Ban chấp hành Trung ương Đảng về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, với nhiệm vụ trong tâm là thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng gắn với cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng TTX và PTBV. Đây là Nghị quyết tạo tiền đề cho hàng loạt những điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung một số luật liên quan tới TTX, như: Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; Luật Phòng chống thiên tai; Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi); Luật Khí tượng thủy văn và những điều chỉnh trong nhiều chiến lược quốc gia, chương trình quốc gia nhằm thúc đẩy thực hiện Chiến lược tăng trưởng xanh một cách hiệu quả.

Với sự hỗ trợ của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, nhiều bộ, ngành và địa phương đã xây dựng và triển khai Kế hoạch hành động TTX của mình, trong đó một số thành phố đã trở thành mô hình tiêu biểu về thực hiện xanh hóa kinh tế, như: Đà Lạt, Hội An, Hải Phòng hay Hạ Long. Thông qua Chương trình mục tiêu ứng phó với biến đổi khí hậu và TTX giai đoạn 2016-2020, nhiều bộ, ngành và địa phương tiếp tục hỗ trợ để triển khai nhiều các hoạt động liên quan đến thể chế và triển khai thí điểm, cũng như ứng dụng các sáng kiến xanh vào thực tế đời sống.

Kết quả đáng khích lệ về xanh hoá sản xuất

Trong 5 năm kể từ khi Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 1393/QĐ-TTg, ngày 25/09/2012 về phê duyệt Chiến lược Quốc gia về tăng trưởng xanh, việc triển khai TTX có nhiều kết quả đáng ghi nhận, trong đó phải kể đến việc Thúc đẩy phát triển năng lượng tái tạo với việc ban hành Chiến lược Phát triển Năng lượng tái tạo ở Việt Nam đến năm 2030 và tầm nhìn đến 2050; Xây dựng khung pháp lý về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong sản xuất và đời sống; Tiêu chuẩn hiệu suất năng lượng tối thiểu và dán nhãn năng lượng cho các sản phẩm tư liệu sản xuất và thiết bị tiêu dùng.

Thông qua việc sử dụng tiết kiệm và hiệu quả năng lượng và tăng tỷ lệ sử dụng năng lượng tái tạo đáng kể trong thời gian qua, hiệu suất sử dụng năng lượng trong các doanh nghiệp thuộc các ngành công nghiệp sử dụng nhiều năng lượng đã được cải thiện, góp phần tích cực vào việc giảm phát thải khí nhà kính và phát triển xã hội ít các bon. Theo số liệu công bố của Viện Năng lượng - Bộ Công Thương, tỷ lệ tiết kiệm năng lượng của Việt Nam trong thời gian qua đạt hơn 6%, tương đương với tổng năng lượng tiết kiệm gần 12 triệu tấn dầu quy đổi. Trong đó, cường độ năng lượng của các ngành sản xuất công nghiệp tiêu thụ nhiều năng lượng đều giảm dần, như: ngành thép giảm 8,09%, xi măng giảm 6,33%, dệt sợi giảm 7,32%. Bên cạnh đó, năng lượng tái tạo cũng được xác định là nguồn năng lượng quan trọng và nhiều tiềm năng của đất nước.

Nông nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng cũng được coi là những ngành có bước tiến đáng ghi nhận trong việc thực hiện TTX. Các luật, như: Thủy sản, Lâm nghiệp hay các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn và quy định về các tiêu chuẩn “xanh” đã được các ngành tập trung nghiên cứu và ban hành, cũng như nhiều trong số đó đã được ứng dụng vào thực tế, mang lại hiệu quả trong sản xuất, kinh doanh. Điển hình như: Quy trình thực hành nông nghiệp tốt (VietGAP) cho các loại nông sản chủ lực (như: rau quả, chè, lúa, cà phê), các quy trình tưới tiết kiệm nước cho lúa, cho các loại cây trồng cạn; Chương trình khí sinh học trong ngành chăn nuôi, tiết kiệm và nâng cao hiệu quả năng lượng trong đánh bắt thủy sản… Kế hoạch hành động giảm phát thải khí nhà kính trong sản xuất xi măng, triển khai quản lý tổng hợp chất thải rắn, phát triển đô thị xanh hay kế hoạch hành động giảm phát thải khí CO2 trong hoạt động hàng không dân dụng bước đầu cũng đã thu được những kết quả đáng khích lệ và đang dần trở thành một xu thế mạnh mẽ trên nhiều địa phương và nhiều ngành kinh tế.

Cũng trong thời gian qua, thúc đẩy công nghệ sạch đã được chú trọng và được thể chế hóa bằng Quyết định số 2612/QĐ-TTg, ngày 30/12/2013 phê duyệt Chiến lược Sử dụng công nghệ sạch giai đoạn đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, với nội dung chính là đến năm 2020, 100% dự án đầu tư mới thuộc các ngành sử dụng nhiều năng lượng, có khả năng gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, như: dệt nhuộm; sản xuất phân bón, thuốc trừ sâu; luyện thép; khai thác, chế biến khoáng sản; nhiệt điện; sản xuất giấy; sản xuất xi măng; sản xuất mía đường phải đáp ứng các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về công nghệ sạch. Đồng thời, 60%-70% cơ sở sản xuất đang hoạt động trong các ngành công nghiệp nêu trên hoàn thành việc xây dựng, thực hiện lộ trình đổi mới công nghệ theo hướng sử dụng công nghệ sạch.

“Dấu thăng” cho xanh hoá lối sống và tiêu dùng bền vững

Ngày 11/01/2016, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình Hành động quốc gia về sản xuất và tiêu dùng bền vững đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 với mục tiêu từng bước thay đổi mô hình sản xuất và tiêu dùng theo hướng nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn tài nguyên và năng lượng; tăng cường sử dụng các nguyên vật liệu, năng lượng tái tạo, sản phẩm thân thiện với môi trường, giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế chất thải… Hành động đột phá của Chương trình là thay đổi hành vi người tiêu dùng trong quá trình mua sắm, sử dụng, thải bỏ sản phẩm, sản xuất và tiêu dùng bền vững phải căn cứ trên cơ sở huy động sự tham gia, đóng góp của mọi thành phần trong xã hội, trong đó doanh nghiệp và người tiêu dùng đóng vai trò trung tâm.

Một số hoạt động liên quan đến sản xuất và tiêu dùng bền vững, trong đó có tiêu dùng xanh cũng bắt đầu được quan tâm nhiều hơn. Nhiều văn bản liên quan đã được ký kết, như: Tuyên ngôn quốc tế và Kế hoạch hành động quốc gia về sản xuất và tiêu dùng bền vững (1999), các văn bản pháp luật liên quan đến bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả; Tuyên ngôn quốc tế về sản xuất sạch hơn (1999)... Các chương trình liên quan đến sản phẩm xanh, như: Chương trình cấp Nhãn sinh thái (Bộ Tài nguyên và Môi trường; Nhãn tiết kiệm năng lượng (Bộ Công thương); Nhãn sinh thái cho ngành du lịch cũng được triển khai.

Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam giai đoạn 2011-2020 đã khẳng định yêu cầu cấp thiết của việc chuyển đổi phương thức tiêu dùng theo hướng bền vững nhằm bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường, chủ động ứng phó biến đổi khí hậu với nội dung: Nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, gắn nhiệm vụ, mục tiêu bảo vệ môi trường với phát triển kinh tế - xã hội; Chú trọng phát triển kinh tế xanh, thân thiện với môi trường; Thực hiện sản xuất và tiêu dùng bền vững; Từng bước phát triển năng lượng sạch, sản xuất sạch, tiêu dùng sạch.

Hoạt động xanh hóa lối sống và tiêu dùng bền vững cũng đã được hiện thực thông qua việc triển khai đô thị xanh ở rất nhiều các đô thị trên toàn quốc, nổi bật phải kể đến là Đà Nẵng, Bắc Ninh, Tam Kỳ. Theo số liệu công bố từ Bộ Xây dựng, đến nay, đã có 24/59 đô thị đã ban hành các văn bản để chỉ đạo, triển khai thực hiện đô thị tăng trưởng xanh. Trong đó, có 7 đô thị đã xây dựng Nghị quyết chỉ đạo, 15 đô thị đã xây dựng kế hoạch, 6 đô thị đã có chương trình thực hiện.

Huy động nguồn lực cho các nhiệm vụ then chốt

Huy động và bố trí nguồn lực cho tăng trưởng xanh là nhiệm vụ quan trọng mà Bộ Kế hoạch và Đầu tư cần phải thực hiện để triển khai Quyết định 1393 của Thủ tướng Chính phủ. Theo tính toán sơ bộ ban đầu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Ngân hàng Thế giới, để thực hiện Chiến lược tăng trưởng xanh đến năm 2030, dự kiến cần khoảng 30 tỷ USD, trong đó ngân sách nhà nước chỉ có thể đáp ứng tối đa 30% nguồn lực và cần tới 70% từ các nguồn khác, trong đó chủ yếu là khu vực tư nhân.

Nguồn đầu tư từ ngân sách nhà nước chủ yếu tập trung vào các chương trình đầu tư giao thông công cộng của ngành giao thông cho các thành phố lớn, các đường cao tốc; Các chương trình, dự án hỗ trợ Việt Nam nâng cao năng lực, thể chế chính sách giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, hỗ trợ đầu tư tư nhân, dự án thí điểm. Trong kế hoạch đầu tư công trung hạn, Chương trình mục tiêu cho biến đổi khí hậu và TTX giai đoạn 2016-2020 ước tính phân bổ khoảng 15.800 tỷ đồng, trong đó 30% cho TTX.

Nguồn đầu tư tư nhân cho TTX mang tính quyết định đảm bảo thành công trong thực hiện Chiến lược tăng trưởng xanh, bao gồm: các dự án đầu tư của doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp trong nước, hộ sản xuất, hộ gia đình, chủ yếu tập trung vào năng lượng tái tạo và một phần hiệu quả năng lượng. Tổng vốn đầu tư cho mục tiêu này hiện đạt gần 2,5 tỷ USD.

Tầm nhìn dài hạn về tăng trưởng xanh

Năm 2020 được cho là năm bản lề để Bộ Kế hoạch và Đầu tư, với vai trò cơ quan đầu mối, sẽ tiếp tục thực hiện các chủ trương của Đảng và những nhiệm vụ Chính phủ giao về thực hiện TTX. Hàng loạt các hành động chính sách quan trọng sẽ được thực thi trong năm nay, trong đó phải kể đến việc tổ chức sơ kết, đánh giá giữa kỳ việc triển khai Chiến lược Quốc gia về tăng tưởng xanh năm 2020 và tiến tới tổng kết Chiến lược vào cuối thập kỷ. Theo đó, trong năm 2020, Bộ Kế hoạch và Đầu tư sẽ chủ trì rà soát, đánh giá việc thực hiện Chiến lược tăng trưởng xanh trong 5 năm vừa qua, cập nhật và điều chỉnh Chiến lược Quốc gia về tăng trưởng xanh cho giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2045 với nhiều đổi mới mạnh mẽ. Các tiêu chí về TTX sẽ được xem xét lồng ghép trong các văn bản hướng dẫn lập kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm, hàng năm và hướng dẫn lập kế hoạch đầu tư công 5 năm, hàng năm, trong đó các nội dung về TTX không chỉ mang tính định hướng, mà còn bao hàm các hướng dẫn với các mục tiêu và chỉ tiêu cụ thể, đi kèm với các giải pháp, cân đối nguồn lực thực hiện. Các hoạt động thực hiện TTX sẽ không chỉ dừng ở quy mô quốc gia, ngành, tỉnh, thành phố, mà sẽ được triển khai rộng khắp ở cấp cơ sở có gắn với các quy định mang tính bắt buộc.

Với nỗ lực, quyết tâm của cả hệ thống chính trị, với định hướng triển khai thực hiện có chủ đích rõ ràng, TTX của Việt Nam trong thời gian tới chắc chắn sẽ tiếp tục đóng góp tích cực vào công cuộc tái cấu trúc nền kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Trong bối cảnh của những thay đổi “vô tiền khoáng hậu” trên thế giới, trong đó đặc biệt phải kể đến tác động vô cùng mạnh mẽ của cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 với tầm ảnh hưởng tới mọi mặt của đời sống, TTX tiếp tục vừa là mục tiêu, vừa là phương pháp tiếp cận để tận dụng triệt để các hiệu ứng tích cực, góp phần tạo nên những đột phá trong việc triển khai thực hiện thành công mục tiêu phát triển nhanh và bền vững trong năm mới Canh Tý 2020 và cả thập kỷ tới./.

TS. Lê Việt Anh

Vụ trưởng Vụ Khoa học, Giáo dục, Tài nguyên và Môi trường, Bộ Kế hoạch và Đầu tư

(Theo Tạp chí Kinh tế và Dự báo số 01+02/2020)

Tin xem nhiều
* Ý kiến bạn đọc
* Tin đáng chú ý
* Các tin liên quan