Cập nhật ngày 17/06/2017 - 16:06:50

           

Ứng phó với biến đổi khí hậu phải gắn với phát triển bền vững ngành nông nghiệp

- Sự phát triển thiếu tính bền vững, như: khai thác cát bừa bãi, phát triển rừng thiếu quy hoạch, sử dụng nước quá mức… đã tác động đến thiên nhiên một cách trực tiếp dẫn đến làm gia tăng thiên tai.

Bên lề hội thảo "Một số hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu của ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn trong bối cảnh thực hiện thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu" được tổ chức ngày 15/06/2017, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hoàng Văn Thắng đã trao đổi với báo giới về hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu của ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn.

PV: Việc khai thác tài nguyên thiên nhiên, phát triển kinh tế - xã hội có tác động như thế nào tới  công tác ứng phó với thiên tai, thưa Thứ trưởng?

Thứ trưởng Hoàng Văn Thắng:  Có thể nói sự phát triển thiếu bền vững của đời sống kinh tế - xã hội làm gia tăng thiên tai, chẳng hạn như nạn khai thác cát gây sạt lở ở vùng sông Tiền, sông Hậu, ven biển miền Trung. Bên cạnh đó, việc phát triển thượng nguồn cả trong nước và ngoài nước như công trình thủy lợi, thủy điện, một mặt mang lại nguồn lợi kinh tế, nhưng mặt khác lại làm suy giảm lượng bùn cát. Đây là nguyên nhân lớn dẫn tới phát triển không bền vững ở các vùng đồng bằng, thậm chí có chuyên gia đã đặt vấn đề tan rã của vùng đồng bằng. Ngoài ra, tình trạng sử dụng quá mức tài nguyên đất, đặc biệt là ở các vùng đất ngập nước gây ngập úng đô thị và tác động đến hạn, mặn ở vùng nông thôn cũng làm ảnh hưởng đến công tác ứng phó với thiên tai. Những năm gần đây, thiên tai có cường độ cao như mưa cực lớn, bão lớn xuất hiện dày hơn, thời gian xuất hiện cũng biến đổi. Về lâu dài, tác động của biến đổi khí hậu thể hiện nước biển dâng, cực đoan, bất lợi hơn.

PV: Thưa Thứ trưởng, với những thách thức hiện nay, liệu chúng ta có đạt mục tiêu cam kết theo Hiệp định Paris về ứng phó với biến đổi khí hậu hay không?

Thứ trưởng Hoàng Văn Thắng: Hiện nay, cam kết của các quốc gia tự nguyện khi tham gia Hiệp định Paris là giảm phát thải 8% nhưng chúng ta đăng ký giảm phát thải cao hơn, khoảng trên 20% nếu có sự chung tay của cộng đồng quốc tế. Để đạt mục tiêu nay, Việt Nam đang làm rất mạnh nhiều giải pháp. Trong lĩnh vực năng lượng, Việt Nam đang có những đột phá về sử dụng năng lượng tái tạo như điện gió đã hòa lưới điện quốc gia ở Quảng Trị, Bạc Liêu, Bình Thuận… hay các dự án về năng lượng mặt trời. Bên cạnh đó có sự chuyển dịch về mô hình phát triển nông nghiệp để thực hiện đề án tái cơ cấu nông nghiệp, như: quản lý nước, bảo vệ phát triển rừng, phát triển nông nghiệp sạch theo chuỗi… Tôi nghĩ rằng Việt Nam sẽ đạt được mục tiêu cam kết giảm phát thải theo Hiệp định Paris.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hoàng Văn Thắng 

PV: Thời gian tới, việc ứng phó với biến đổi khí hậu cần có những giải pháp gì, thưa Thứ trưởng?

Thứ trưởng Hoàng Văn Thắng:  Việc thích ứng với biến đổi khí hậu phải gắn với phát triển bền vững để không tác động quá lớn đến tự nhiên, đồng thời có những có giải pháp xây dựng dựa vào hệ sinh thái như là Đồng bằng sông Cửu Long hiện nay đang cố gắng phục hồi các hệ sinh thái rừng ngập mặn hoặc vùng ven biển, miền Trung đang nghĩ tới việc bù lại lượng cát. Đấy là những hành động của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn  trong việc thực hiện Hiệp định Paris về ứng phó với biến đổi khí hậu hướng tới đạt mục tiêu tăng trưởng xanh, phát triển bền vững.

Thực hiện các cam kết quốc tế về thích ứng với biến đổi khí hậu, đặc biệt là Hiệp định Paris về ứng phó với biến đổi khí hậu, ngành nông nghiệp đã có nhiều hành động cụ thể. Bộ đã ban hành Kế hoạch thực hiện các thỏa thuận của Hiệp định Paris về ứng phó với biến đổi khí hậu trong lĩnh vực nông nghiệp và nhiều cơ chế chính sách đã được xây dựng. 

Về mặt giảm thiểu rủi ro thiên tai, ngành nông nghiệp cố gắng thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, trong đó có rất nhiều hành động mà cố gắng phát triển theo hướng tăng trưởng xanh. Ví dụ: áp dụng các biện pháp giảm dần lạm dụng tài nguyên thiên nhiên như là sử dụng nước, đất đai, phát triển theo hướng thích ứng với các hệ thống sinh thái chứ không tác động tới tài nguyên. 

Trong nông nghiệp, những giải pháp trồng trọt ít phát thải cũng được áp dụng như sử dụng nước hợp lý SRI, “1 phải, 5 giảm”. Trong chăn nuôi áp dụng nhiều biện pháp giảm phát thải như xử lý chất thải chăn nuôi biogas. Đặc biệt trong lâm nghiệp có chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, đẩy mạnh bảo vệ phát triển rừng để người dân có thể sinh sống được từ rừng. Trong lĩnh vực thủy lợi, phòng chống thiên tai đang đẩy mạnh nâng cao hiệu quả quản lý các hệ thống thủy lợi, tăng cường các biện pháp sử dụng nước tiết kiệm, quản lý nước. 

PV: Theo Thứ trưởng, việc xây dựng nhiều hệ thống công trình thủy điện trên thượng nguồn Mê Kông đã tác động như thế nào tới công tác phòng chống thiên tai ở nước ta?

Thứ trưởng Hoàng Văn Thắng:  Phát triển thượng nguồn Mê Kông có tác động rất lớn mà cho đến nay chúng ta vẫn chưa đánh giá hết được. Trước hết là làm suy giảm mạnh lượng bùn cát trong những năm qua, theo đánh giá có thể hiện nay đã giảm gần 50% và có thể chỉ còn 30 – 35% trong tương lai, cả ở dòng chính và dòng nhánh. Việc suy giảm phù sa, dinh dưỡng đã tác động đến đa dạng sinh học. Bên cạnh đó, việc xây dựng các công trình ở thượng nguồn cũng làm thay đổi quy luật dòng chảy, mặn đến sớm hơn. Trước đây, mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long thường đến vào cuối tháng 2 nhưng nay có thể đến vào giữa tháng 12 năm trước do tích nước ở thượng nguồn. Nó ảnh hưởng đến phát triển sản xuất. Đặc biệt, hoạt động xây dựng các công trình ở thượng nguồn đã tác động lớn đến sản xuất bởi quy luật lũ cũng thay đổi. Theo đó các lũ nhỏ gần như hết vì các hồ điều tiết gần hết lũ, các lũ trung bình có thể trở thành lũ nhỏ và lũ lớn có thể giảm, nhưng lũ cực lớn gây thiên tai nhưng chưa chắc đã giảm. Đấy là những cái bất lợi đòi hỏi chúng ta phải có giải pháp mới trong ứng phó. Hạn hán và xâm nhập mặn cũng vậy.

Vấn đề lớn ở Đồng bằng sông Cửu Long là mô hình phát triển bền vững với môi trường. Một số giải pháp chúng ta triển khai trước đây để làm ngọt hóa có thể gây ô nhiễm. Bởi khi chúng ta ngọt hóa là phải làm các cống ngăn mặn, khi nước biển dâng đòi hỏi thời gian đóng cống lâu, gây ô nhiễm mạnh mẽ. Do đó, những mô hình phát triển trong bối cảnh hiện nay cần có sự thay đổi, đặc biệt là ở khu vực bán đảo Cà Mau, Tứ giác Long Xuyên và thận trọng khi xây dựng các công trình hạ tầng.

PV: Xin cảm ơn Thứ trưởng!

 

 

Thanh Hà (Thực hiện)
* Ý kiến bạn đọc
* Tin đáng chú ý
* Các tin liên quan