Các trưởng ngành nói gì về DNNN?

Cập nhật ngày 29/05/2018 - 09:26:13

           

Các trưởng ngành nói gì về DNNN?

- Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ trưởng Bộ Công Thương, Tổng thanh tra Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã có những giải trình thêm xung quanh việc thực hiện chính sách về quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại DNNN.

Ngày 28/5, Quốc hội đã tiến hành giám sát tối cao việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại doanh nghiệp và cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) giai đoạn 2011-2016. Trong phiên thảo luận, các bộ trưởng, trưởng ngành đã có những giải trình xung quanh vấn đề trên.

Ông Trần Hồng Hà - Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường

Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường:

Thách thức trong thất thoát nguồn vốn nhà nước từ nguồn lực đất đai của DNNN

Trong thời gian có hạn, tôi xin giải trình làm rõ một số vấn đề:

Thứ nhất, liên quan thực trạng và nguyên nhân.

Thứ hai, về phía cơ quan tham mưu, Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã triển khai thực hiện công việc này như thế nào.

Thứ ba, những vấn đề trong thời gian sắp tới chúng ta cần phải tập trung để khẩn trương giải quyết một cách rốt ráo từ cơ chế, chính sách đến công tác tổ chức triển khai thực hiện.

Có thể khẳng trong thời gian cổ phần hóa các DNNN trước đây, đặc biệt trước khi có Nghị định 01 ngày 06 tháng 1 năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ. Nguyên nhân chính ở đây, do các quy định của pháp luật về đất đai cũng như về quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp, phương án rà soát quỹ đất đai, sử dụng đất đai... nhu cầu sử dụng đất đai của các doanh nghiệp.

Thông thường khi cổ phần hóa chưa được xem xét trước khi tiến hành cổ phần hóa, bởi vậy nên nguồn lực đất đai có thể nói chúng ta chưa có quản lý và đánh giá về giá trị đất đai ở đây. Đây là một trong những nguyên nhân chính gây ra khi tính toán giá trị của doanh nghiệp không thể tính toán được giá trị từ đất đai để đưa vào giá trị của doanh nghiệp.

Trên thực tế thì đây là một điều cũng không sai, vì thực tế khi giao đất cho các DNNN chủ yếu giao đất không thu tiền sử dụng hoặc giao đất thu tiền sử dụng hàng năm nên việc đưa ngay vào đối với giá trị của doanh nghiệp là không thể. Tuy nhiên, như các vị đại biểu cũng đã chỉ ra rất rõ:

Thứ nhất, nhiều DNNN khi cổ phần hóa trên thực tế nhu cầu sử dụng đất đai không phải là như vậy.

Thứ hai, có nhiều khu vực đất đai đang sử dụng rất lãng phí, quản lý chưa tốt và nhiều khu đất vàng. Trên thực tế khi cổ phần hóa và sau khi cổ phần hóa xong thông thường các doanh nghiệp đề nghị chuyển đổi mục đích sử dụng đất không đúng theo các tiêu trí, mục đích của doanh nghiệp này cần phải thực hiện. Việc chuyển đổi mục đích đó thông thường chúng ta vướng mắc không thể tính toán được việc đưa ra đấu giá các phần tài sản ở trên đất đó. Thông thường khi áp dụng giá đất đai hiện hành còn có sự khác rất lớn so với giá đất theo thị trường. Trên thực tế chúng ta chưa đánh giá được giá trị về mặt vị trí khu đất đó, đấy là nguyên nhân tôi xin báo cáo.

Trước tình hình này Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tham mưu cho Chính phủ và Chính phủ cũng đã ban hành kịp thời Nghị định số 01 ngay từ tháng 1/2017 sửa đổi và quy định chi tiết, trong đó nghị định đã quy định về phương án sử dụng đất khi cổ phần hóa DNNN, doanh nghiệp cổ phần hóa có trách nhiệm phải rà soát toàn bộ quỹ đất đang quản lý sử dụng để lập phương án sử dụng đất theo pháp luật của đất đai. Pháp luật sắp xếp xử lý đất thuộc sở hữu nhà nước và trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt trước khi cổ phần hóa. Đây là một trong những yêu cầu hết sức quan trọng. Qua việc rà soát này chúng ta có thể hoàn toàn thu hồi lại những quỹ đất mà hiện nay doanh nghiệp quản lý lỏng lẻo hoặc không cần thiết và sử dụng không đạt hiệu quả thu hồi lại để tạo quỹ đất để phục vụ các mục đích khác.

Nội dung thứ hai, việc xác định giá đất để xác định giá trị quyền sử dụng đất khi cổ phần hóa doanh nghiệp phải đảm bảo nguyên tắc giá đất là giá đất cụ thể do Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định. Trên thực tế hiện nay giá đất này do nhiều nguyên nhân nhưng trong đó có một nguyên nhân là việc xác định của cơ quan tư vấn cũng như các cơ quan quản lý nhà nước cũng như Hội đồng xác định giá đất là do chúng ta chưa tính đến quy hoạch, chưa tính đến vị trí, lợi thế nên giá đất không phù hợp với cơ chế thị trường và đây là một điểm trong Luật Đ ất đai yêu cầu khi xác định giá đất phải công bố công khai giá đất này. Ở nội dung này nhiều đại biểu thấy nếu chúng ta công bố công khai thì thấy rõ được tính bất hợp lý khi xác định giá đất. Chính vì không công khai minh bạch nên có chuyện lợi dụng của các nhóm lợi ích và làm thất thoát tài sản của nhà nước.

Thứ ba, chúng tôi đã đề xuất việc xử lý tồn tại trước khi Nghị định 01 ngày 6/1/2017 thì các doanh nghiệp mà cổ phần hóa hiện nay chúng ta thấy xã hội, nhân dân và đại biểu, cử tri hết sức quan tâm thất thoát rất lớn nguồn lực trong khi chúng ta cần phải đưa nguồn lực đất đai vào phục vụ cho phát triển kinh tế thì chúng tôi cũng đề nghị xem xét có việc thanh tra, kiểm tra và trên thực tế hiện nay chúng ta đang tiến hành công tác thanh tra tất cả các dự án có đất vàng, hiện nay các bộ, các ngành đang thực hiện công việc này và trên cơ sở mà phát hiện có những vấn đề gì mà thiếu minh bạch, không đảm bảo sự phù hợp về vấn đề xác định giá đất đai thì chúng ta sẽ xem xét để có những biện pháp để xử lý thích hợp.

Đặc biệt trong việc xử lý này Bộ Tài chính đã tham gia rất quan trọng, liên quan đến vấn đề kinh tế đất đai. Nghị định 126 của Chính phủ ngày 16/11/2017 đã thể hiện. Sáng nay có nhiều đại biểu phát biểu ý kiến. Tất nhiên, khi xem xét nếu chúng ta làm đầy đủ như Nghị định 01, Nghị định 126 thì vấn đề thất thoát trong việc đưa các nguồn lực đất đai từ các DNNN chắc chắn sẽ được cải thiện về cơ bản. Tôi rất đồng tình với ý kiến các dại biểu hôm nay đã nêu, đặc biệt khi cổ phần hóa chúng ta phải tính đến đa mục tiêu:

Thứ nhất, xem xét để quản lý hiệu quả hơn quỹ đất dùng cho các DNNN, trên cơ sở tính toán, quy hoạch lại. Nhiều DNNN có vấn đề liên quan đến ô nhiễm môi trường, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch phát triển đô thị và xây dựng không phù hợp chúng ta cũng tính toán để thu hồi lại quỹ đất này, tiến hành đấu giá, tiền đấu giá thu được dùng để chỉnh trang đô thị và giải quyết vấn đề phát triển đô thị, có thể dùng một phần để hỗ trợ doanh nghiêp di dời ra khỏi khu vực đông dân cư hiện nay. Đó là vấn đề rất đúng đắn.

Bên cạnh đó, hôm nay tôi muốn đề cập thêm, hiện nay có một quỹ đất của DNNN rất lớn nhưng quản lý hết sức lỏng lẻo trong thời gian dài, đại biểu và cử tri đã nêu vấn đề này trong nhiều kỳ họp Quốc hội. Tôi cho rằng vấn đề liên quan đến đất đai của nông lâm trường, đến phát triển rừng, như đại biểu ở Tây Nguyên và nhiều địa phương đã nêu, chúng ta cần thực hiện sớm việc giải quyết tồn tại lâu nay liên quan đến đất đai không được quản lý trên cơ sở hồ sơ địa chính, không cắm mốc, vấn đề tranh chấp đất đai đang diễn ra rất nhiều. Hiện nay có nhiều nông lâm trường đất đai bị lấn chiếm và chiếm dụng rất lớn.

Trên thực tế các nông lâm trường trong tình trạng hoạt động không có lợi nhuận, không đóng góp trách nhiệm tài chính đối với nhà nước, việc giải quyết vấn đề giải quyết đất đai các công ty, nông, lâm trường hiện nay chiếm quỹ đất rất lớn, nếu giải quyết được có thể chuyển một phần quỹ đất về địa phương để giải quyết vấn đề kinh tế - xã hội, vấn đề đất đai cho đồng bào dân tộc cũng như nâng cao hiệu quả đối với đất đai nông lâm trường, đây là khu vực hiện nay Bộ Tài nguyên và Môi trường, các bộ, ngành đang đặc biệt quan tâm. Liên quan đến đất đai nông lâm trường thì không phải chỉ vấn đề đất đai mà nó còn là vấn đề kinh tế, vấn đề xã hội, vấn đề an ninh và chính trị.

Ông Trần Tuấn Anh - Bộ trưởng Bộ Công Thương

Bộ trưởng Bộ Công Thương:

Có sự lẫn lộn giữa vai trò quản lý nhà nước với vai trò quản trị và chủ quản

Trước hết, vấn đề thứ nhất đó là quản lý nhà nước và quyền sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp. Báo cáo của Đoàn giám sát tối cao của Quốc hội đã phân tích và làm rõ.

 Thực tế, có hai giai đoạn rất quan trọng, giai đoạn từ trước năm 2012, tức là từ 2011 đến 2012 thì việc thực hiện quyền sở hữu nhà nước cũng như thực hiện quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp chủ yếu được thực hiện theo Luật DNNN năm 2003 cũng như Luật Doanh nghiệp năm 2005. Đồng thời, có một số các văn bản dưới luật như Nghị định 132, Nghị định số 86, Nghị định số 09 và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 271 năm 2003 về quy chế giám sát và đánh giá hiệu quả hoạt động của DNNN. Đây là những văn bản pháp quy rất quan trọng để cho các hệ thống chính trị thực hiện các chức năng quản lý nhà nước đối với DNNN cũng như chủ sở hữu Nhà nước đối với hệ thống doanh nghiệp.

Trên thực tế, Bộ Công Thương trong thời gian đó cũng thực hiện theo những quy định chung này và vì vậy để thực hiện việc giám sát hiệu quả tài chính đối với DNNN cũng như đại diện phần vốn chủ sở hữu nhà nước đối với DNNN thực tế thực hiện với vai trò chủ yếu là của Bộ Tài chính.

Giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2016 bắt đầu có những sự thay đổi về thể chế và cả về pháp quy. Cụ thể với Luật Doanh nghiệp năm 2005, Luật Doanh nghiệp năm 2014, Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp và DNNN (chúng ta gọi là Luật 69). Nghị định số 99 ngày 15 tháng 11 năm 2012 của Chính phủ về phân công phân cấp các quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với DNNN và vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp bắt đầu thi hành từ 30/12/2012.

Nghị định số 61 ngày 25/6/2013 của Chính phủ về ban hành quy chế giám sát tài chính và đánh giá hiệu quả hoạt động công khai thông tin tài chính đối với DNNN do nhà nước làm chủ sở hữu...

Thực hiện từ Nghị định 71 ngày 15/8/2013, Công văn số 6878 của Bộ Công Thương về cụ thể hóa trong phân công thực hiện Quyết định 35 của Thủ tướng. Đây là những nội dung quan trọng đã thể chế hóa, tổ chức triển khai thực hiện quy định của pháp luật liên quan đến quản lý nhà nước với DNNN cũng như thực hiện chức năng chủ sở hữu phần vốn nhà nước trong các DNNN trong ngành công thương.

Cũng như trong nhận định, đánh giá trong báo cáo giám sát đã khẳng định giai đoạn 2011-2016 với những chức năng, nhiệm vụ lớn DNNN thực hiện, trong đó có nhiệm vụ lớn liên quan đến cân đối về vĩ mô cũng như thực hiện mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế ngành, những yêu cầu trong quản trị vốn nhà nước tại các DNNN cơ bản được tiếp tục hoàn thiện và triển khai thực hiện và từng bước có hiệu quả.

Trên thực tế nhiều đại biểu đã phân tích với các nhiệm vụ thực hiện chính sách xã hội thì các doanh nghiệp trong thời gian qua trong đó có doanh nghiệp của ngành công thương góp phần đảm bảo mục tiêu và nhiệm vụ chính trị mà nhà nước phân công.

Tuy nhiên, chúng tôi đồng tình về nhận định trong báo cáo giám sát của Quốc hội đặc biệt thông qua giám sát tối cao của Quốc hội với Bộ Công Thương thì những nội dung lớn liên quan chức năng, nhiệm vụ của quản lý nhà nước đối với DNNN cũng như người đại diện vốn chủ sở hữu vốn nhà nước đối với doanh nghiệp vốn nhà nước ở ngành công thương cũng đã phân tích làm rõ và minh họa bằng những nội dung cụ thể như Phó Chủ tịch Quốc hội đã nói chi tiết nêu ở phần phụ lục và phần chú thích có nhiều tồn tại và yếu kém, trong đó có cả vấn đề khách quan và chủ quan nhưng nhiều vấn đề là chủ quan.

Tôi xin báo cáo là bên cạnh nhận định này chúng tôi xin phân tích làm rõ thêm những nguyên nhân cơ bản còn gây tồn tại, hạn chế trong hiệu quả hoạt động của các DNNN.

Thứ nhất về thể chế và quy phạm pháp luật đã liên tục được cải tiến, điều chỉnh và bổ sung trên cơ sở từ thực tiễn cũng như từ những nghiên cứu, kinh nghiệm từ thực tiễn và của quốc tế. Thế nhưng chúng ta thấy rõ hàng loạt các văn bản luật, dưới luật của chúng ta vẫn còn có những xung đột và thậm chí trong nhiều trường hợp có những khoảng trống dẫn đến việc hoạt động của các DNNN và cũng như quản lý phần vốn của nhà nước ở trong DNNN trong thời gian vừa qua còn nhiều khó khăn và bất cập. Trong đó có một vấn đề lớn là sự chồng chéo, lẫn lộn giữa quản lý nhà nước như rất nhiều đại biểu đã phân tích.

Báo cáo này cũng đã thể hiện rất đậm nét là sự chồng lấn và lẫn lộn giữa vai trò quản lý nhà nước của các bộ, ngành với vai trò quản trị và chủ quản của các DNNN, dẫn đến thực tế hiện tượng kép. Một mặt là hoạt động của các doanh nghiệp thiếu sự tự chủ, bởi vì nhiều khi phải chịu sự can thiệp của các cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan hành chính nhưng một mặt khác nữa bản thân đội ngũ quản trị doanh nghiệp của chúng ta DNNN lại có tâm lý né tránh trách nhiệm, ỷ lại và đẩy những trách nhiệm lên cho các cơ quan quản lý nhà nước mà nhiều khi theo quy định của luật pháp dẫn đến hiện tượng này.

Vấn đề thứ hai, cũng như các đại biểu đã nói đây cũng là nguyên nhân lớn mà dẫn đến hiện tượng thiếu hiệu quả trong thời gian vừa qua, đó chính là sự "vừa đá bóng vừa thổi còi", bởi vì trên thực tế hàng loạt những chủ trương lớn trong phát triển các lĩnh vực kinh tế ngành cũng như các quy hoạch và các chiến lược trên thực tế được xây dựng, nghiên cứu xây dựng bởi các hệ thống của chính bản thân các DNNN và cũng lại được thẩm định phê duyệt bởi các cơ quan quản lý nhà nước, tức là các cơ quan hành chính. Chính vì vậy dẫn đến tình trạng chất lượng của các dự án đầu tư, của các hoạt động đầu tư sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp không đảm bảo và không đảm bảo được hiệu quả, thậm chí có nhiều trường hợp như chúng ta nói "dắt trâu qua rào" và có những dự án có thể nói quy mô đầu tư rất lớn với vai trò thẩm định, giám sát của cả hệ thống nhưng thực tế chất lượng không cao và dẫn đến tình trạng trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện dẫn đến bị mất mát vốn, lãng phí, thậm chí có những sai phạm và hiệu quả của dự án không cao.

Đặc biệt với sự phình to của bộ máy và quan liêu hóa của hệ thống DNNN thì dẫn đến quản trị của doanh nghiệp không đáp ứng được yêu cầu thực tiễn tiến triển rất nhanh của thị trường thế giới trong các bối cảnh của toàn cầu hóa và cũng như phát triển ở trong các lĩnh vực kinh tế ngành.

Vấn đề thứ ba, với cơ chế quản lý như hiện nay và đã có sự chồng lấn như vậy thì dẫn đến tình trạng có sự cố tình làm sai và vi phạm pháp luật trong lĩnh vực đầu tư cũng như thực hiện các dự án đầu tư đó và điển hình là trong 12 dự án thua lỗ và kém hiệu quả trong thời gian vừa qua mà ngành công thương đã báo cáo với Quốc hội, cử tri cả nước đã cho thấy rất nhiều những dự án, trong số đó phản ánh tình trạng đúng trong quản lý vốn nhà nước của chúng ta cũng như quản trị của DNNN của chúng ta đúng với thực trạng mà chúng ta đã thấy.

Vì vậy, không chỉ các cán bộ có trách nhiệm của các DNNN mà bản thân cán bộ quản lý của các bộ, ngành, các cơ quan quản lý nhà nước cũng phải chịu trách nhiệm kể cả đối với trách nhiệm có mức độ xử phạt hình sự.

Chính vì vậy, chúng tôi cũng xin bày tỏ sự đồng tình với báo cáo của giám sát tối cao của Quốc hội đặc biệt là trong phần nghị quyết, trong đó nêu rõ những giải pháp và biện pháp cần tập trung chấn chỉnh trong thời gian tới, nhưng chúng tôi cũng xin góp ý thêm một số quan điểm từ góc độ quản lý ngành của ngành công thương.

Chúng ta cần đẩy nhanh hơn nữa tiến độ hoàn thiện về mặt thể chế và khuôn khổ pháp lý cho Ủy ban Quản lý vốn nhà nước, tuy nhiên trong hoạt động điều hành của Ủy ban Quản lý vốn nhà nước cũng cần phải quán triệt rõ những nguyên tắc chỉ đạo của Đảng, Nhà nước trong kinh tế nhà nước để đảm bảo vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước đồng thời thực hiện theo đúng nguyên tắc của thị trường.

Tôi cũng rất đồng tình như ý kiến của đại biểu Quang Hàm cũng nêu là chúng ta phải xác định rõ nguyên tắc của hoạt động để không phải là chúng ta thoái vốn, bán đi những lĩnh vực kinh doanh rất có hiệu quả của các doanh nghiệp để rồi tiếp tục đầu tư mua vốn tại những lĩnh vực hoạt động khác mà thậm chí phần kinh doanh hiệu quả còn chưa cao bằng.

Chúng tôi cho rằng trong chính sách về cổ phần hóa các DNNN cần phải làm rõ những nguyên tắc cơ bản để đảm bảo khai thác được và quản lý vốn nhà nước có hiệu quả. Trong một số dự án, cơ sở kinh tế và xã hội, khi thoái vốn chúng ta lưu ý đến việc làm sao để hiệu quả nhà nước được đảm bảo cao nhất trong phần thoái vốn này, và nhiều khi chúng ta giữ lại phần vốn nếu quá cao cũng không đảm bảo được mục tiêu của thoái vốn nhà nước trong các doanh nghiệp đó, hướng tới, gắn với việc phát triển bền vững của doanh nghiệp và những lợi ích toàn diện của các doanh nghiệp đóng góp cho nền kinh tế và cho xã hội.

Mặt khác, nếu chúng ta tiếp tục duy trì vốn của nhà nước mức tối thiểu thì hoàn toàn không có ý nghĩa và giá trị gì để đảm bảo lợi ích của nhà nước khi chúng ta không còn giữ được vai trò chi phối và nhà đầu tư nước ngoài hoặc các nhà đầu tư mới nắm được cổ phần chi phối, lúc đó chúng ta với cổ tức là hiệu quả từ đó không đảm bảo và không hiệu quả. Trong tinh thần đó, chúng tôi cũng xin  báo cáo Quốc hội, chúng tôi cũng xác định những nội dung lớn cần tập trung trong thời gian tới của ngành công thương là cần phải tiếp tục phối hợp chặt chẽ để thực hiện những chỉ đạo của nhà nước đặc biệt là cả về mặt thể chế và pháp lý để chúng ta hoàn thiện cơ chế quản lý trong đó vai trò phân định rạch ròi, rõ ràng giữa quản lý của nhà nước với quản trị và chủ quản của các doanh nghiệp.

Phải tiếp tục hoàn thiện các khuôn khổ thể chế và pháp lý để đảm bảo trong điều kiện mới, các chiến lược phát triển kinh tế của chúng ta vẫn đảm bảo được những yêu cầu của chủ trương phát triển toàn diện và bền vững của kinh tế trong nước, nhất là với vai trò của các DNNN.

Nguyễn Văn Thể - Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải: Hầu hết các đơn vị được cổ phần hóa đều hoạt động có hiệu quả

Giai đoạn 2011 - 2016 chúng tôi phải cổ phần hóa 70 doanh nghiệp, trong đó có 9 công ty mẹ, tổng công ty và 61 công ty còn lại là công ty thành viên. Khi chúng tôi triển khai, giai đoạn đó chúng ta có nhiều công trình, dự án trọng điểm, chúng ta thực hiện Nghị quyết 13 của Ban Chấp hành Trung ương về đầu tư kết cấu hạ tầng đồng bộ, chúng ta có nghị quyết của Quốc hội để bố trí nguồn vốn trái phiếu Chính phủ để nâng cấp quốc lộ 1 và đường Hồ Chí Minh qua Tây Nguyên, giai đoạn đó có rất nhiều công trình, dự án, do đó chúng tôi thực hiện chủ trương này rất tốt.

 Kết quả, chúng tôi thực hiện cổ phần hóa 137 doanh nghiệp, trong đó theo phê duyệt của Chính phủ là 67 đơn vị. Trong 137 doanh nghiệp có 12 đơn vị là tổng công ty, phần còn lại là các doanh nghiệp trực thuộc các tổng công ty. Quá trình thực hiện chúng tôi thành lập ban chỉ đạo cổ phần hóa, phối hợp với các bộ, ngành, trung ương, thực hiện các khâu đúng theo quy định của Đảng và Nhà nước.

Đối với Bộ Giao thông vận tải khi cổ phần hóa 137 đơn vị, tất cả các công ty khi niêm yết và bán, giá bán được cao hơn giá niêm yết, do đó lợi nhuận đem lại tương đối cao. Cụ thể khi cổ phần hóa 12 tổng công ty, giá trị ban đầu nêu ra chỉ là 2.153 tỷ, thực tế cổ phần hóa được 2.785 tỷ, thặng dư là 632 tỷ. Còn 133 doanh nghiệp thuộc các tổng công ty chúng ta không cần nắm giữ chúng tôi cổ phần hóa giá trị thu về được 4.184 tỷ, thặng dư tới 1.280 tỷ, vì lúc đó niêm yết chỉ 2.904 tỷ. Khi IPO chúng tôi tiến hành cổ phần hóa và bán ngay từ ban đầu, cổ phiếu của các công ty nhà nước chuyển qua công ty cổ phần được giá rất cao.

Nguyên nhân, các doanh nghiệp tư nhân nếu thành lập doanh nghiệp mới họ cần có thời gian, kinh nghiệm để tham gia các gói thầu. Còn các công ty, tổng công ty nhà nước của ngành giao thông chúng tôi có lịch sử lâu dài, có truyền thống tham gia những công trình, dự án lớn, do đó khi cổ phần hóa doanh nghiệp mới sẽ hoạt động rất hiệu quả vì đã có thâm niên, đã có những công trình tương tự, có hồ sơ, kinh nghiệm để có thể tham gia đấu thầu.

Ngoài ra, nếu DNNN chúng ta không được tham gia vào một số gói thầu do một số nhà đầu tư nước ngoài yêu cầu, một số gói thầu ODA không cho DNNN tham gia. Nếu chúng ta chuyển qua mô hình cổ phần thì những doanh nghiệp này có thể tham gia đấu thầu sòng phẳng với các doanh nghiệp tư nhân cũng như doanh nghiệp nước ngoài, do đó những thuận lợi này làm cho hoạt động của các doanh nghiệp được cổ phần hóa sẽ có hiệu quả cao.

Cụ thể theo số liệu thống kê mà chúng tôi nắm được từ năm 2011 đến năm 2016, chúng tôi lấy 18 tổng công ty mà chúng tôi đã cổ phần, trong đó có thể có số liệu là doanh thu thì tăng không nhiều, khoảng 15% thôi, nhưng lợi nhuận sau thuế, do chúng ta quản trị tốt, tăng lên tới 194%, nghĩa là bình quân mỗi năm tăng tới 40%, còn thu nhập của người lao động tăng 32% trong vòng 4 năm.

Nói chung, những doanh nghiệp mà Bộ Giao thông cổ phần hóa trong giai đoạn này, đến thời điểm này, gần như toàn bộ hoạt động có hiệu quả, giải quyết được công ăn việc làm cho người lao động và cũng đảm đương được nhiệm vụ là xây dựng những công trình giao thông trọng điểm.

 Hôm qua chúng ta khánh thành cầu Cao Lãnh, một công trình rất lớn nhưng hoàn toàn đội ngũ xây dựng từ mối trụ cho đến thân trụ tháp đều là Việt Nam. Các công ty này, một số là cổ phần hóa từ DNNN của Bộ Giao thông vận tải và một số doanh nghiệp là tư nhân, chứng tỏ rằng mặc dù mô hình mới nhưng nhiệm vụ sản xuất kinh doanh và nhiệm vụ chuyên ngành của Bộ Giao thông vận tải, những công ty này đều thực hiện rất tốt.

Tuy nhiên, bên cạnh một số mặt tích cực như vậy, khi chuyển qua mô hình mới, các công ty cũng gặp một số khó khăn nhất định, ví dụ như công tác Đảng, công tác đoàn thể ở các công ty cổ phần hiện nay hoạt động so với công ty là DNNN thì có một số khó khăn, do khi cổ phần hóa chúng ta có cổ đông, có hội đồng quản trị, như vậy một số đơn vị có yếu tố nước ngoài và tư nhân nên hoạt động có một số khó khăn, chúng tôi cũng đang có kiến nghị phải xem xét làm thế nào để có mô hình mới để hoạt động Đảng, đoàn thể ở các công ty cổ phần, nhất là những công ty cổ phần mà vốn nhà nước còn thấp, hoạt động có hiệu quả.

Thứ hai, về chuyên môn, chúng tôi xem các doanh nghiệp cổ phần hóa cũng như là thành viên của ngành giao thông vận tải, bởi chúng tôi cũng phải dựa vào các công ty này làm nền tảng cho công tác khảo sát thiết kế và thi công, ví dụ như TEDI là một công ty thiết kế giao thông vận tải trước đây là vốn 100% nhà nước, sau khi cổ phần hóa, hiện nay chúng tôi sử dụng TEDI để thiết kế đường cao tốc Bắc - Nam phía Đông và hiện nay đang lập đề án phát triển đường sắt Bắc-Nam tốc độ cao cũng dựa trên nền tảng của TEDI, nhưng TEDI hiện nay là TEDI cổ phần 100% không còn vốn của Nhà nước.

Nói như vậy để thấy rằng, chúng tôi luôn xem các thành viên này là một bộ phận không thể tách rời của ngành giao thông vận tải. Chúng tôi phải có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi nhất để cho các đơn vị này hoạt động có hiệu quả và ngày càng vững vàng hơn về kinh nghiệm để có thể đảm đương những công việc của ngành giao thông vận tải, hay một số công ty tư nhân quản lý rất gọn nhẹ, khi chuyển qua mô hình cổ phần hóa thì một bộ phận cán bộ không đáp ứng được yêu cầu về chất lượng, tiến độ của công ty mới thì công việc khó khăn, thậm chí thu nhập có thể giảm, vì ở những công ty cổ phần người ta lấy hiệu quả làm đầu để giải quyết lương cho cán bộ và giữ chân nguồn lực chất lượng cao, mặc dù trẻ, mới nhưng đóng góp lớn thì cũng có thể có nguồn lương cao.

Còn những đồng chí thâm niên, nhưng chỉ làm hành chính, quản trị, không nhạy bén được trong môi trường mới thì cũng có một số khó khăn hoặc chế độ, chính sách cho cán bộ, công chức, nếu là cán bộ của DNNN thì trước đây chúng ta có nguồn quỹ, chúng ta thực hiện tốt, khi chuyển qua cổ phần hóa thì một số đồng chí không thích ứng được thì điều kiện khó khăn.

Tuy nhiên, chúng tôi cũng xem như công đoàn viên của ngành giao thông vận tải. Công đoàn của ngành giao thông vận tải cùng với lãnh đạo bộ có những quỹ, giải pháp để làm việc với các doanh nghiệp giải quyết chính sách cho cán bộ, công nhân viên đã có nhiều năm gắn bó với ngành, cũng như phục vụ trong các DNNN và hiện nay phục vụ trong các doanh nghiệp cổ phần.

Tổng Thanh tra Chính phủ Lê Minh Khái

Tổng thanh tra Chính phủ:

6 năm, 19 cuộc thanh tra DNNN, phát hiện sai phạm 345.000 tỷ đồng

Trong thời gian từ năm 2011 đến năm 2016, Thanh tra Chính phủ đã tổ chức được 19 cuộc thanh tra tại các tập đoàn, tổng công ty và các DNNN. Qua hoạt động thanh tra chúng ta thấy kết quả đáng ghi nhận, đã phát hiện với một số tiền khoảng 34.000 tỷ đồng, kiến nghị thu hồi từ ngân sách nhà nước trên 1.000 tỷ đồng và suất toán loại khỏi quyêt toán. Đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét xử lý trên 344.000 tỷ đồng, kiến nghị xử lý nhiều tập thể, cá nhân và chuyển sang cơ quan điều tra xem xét, xử lý là 16 vụ, với 17 đối tượng, đã khởi tố 7 vụ với 24 đối tượng. Đồng thời, cùng với việc phát hiện và kiến nghị xử lý về tiền, tài sản thì Thanh tra Chính phủ cũng làm rõ trách nhiệm của một số tổ chức và cá nhân.

Thanh tra Chính phủ cũng rất quan tâm đến kết quả xử lý sau thanh tra. Trong 5 năm thực hiện như thế thì vừa rồi Thanh tra Chính phủ đã báo cáo với Thủ tướng Chính phủ về kết quả thực hiện kết luận và kiến nghị cũng như quyết định xử lý sau thanh tra của 12 cuộc thanh tra thì kết quả thực hiện cũng trên 1.000 tỷ đồng, đạt khoảng 99% và xử lý khác về kinh tế thì cũng trên 45.000 tỷ đồng và xử lý hành chính đối với 43 tổ chức và 145 cá nhân và khởi tố 7 vụ việc với 24 đối tượng. Qua hoạt động thanh tra thì Thanh tra Chính phủ cũng đã kiến nghị hoàn thiện và xây dựng cơ chế chính sách với tổng số 36 văn bản có liên quan tới cơ chế chính sách pháp luật do thanh tra kiến nghị liên quan tới việc quản lý sử dụng tài sản nhà nước tại doanh nghiệp. Đấy là một kết quả của Thanh tra Chính phủ làm.

Qua kết quả này chúng tôi nhận định tồn tại lớn nhất hiện nay trong báo cáo thẩm tra đã có, nhưng chúng tôi nghĩ báo cáo tài chính của doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo mà cuối năm thì thường báo cáo chưa được trung thực và không chính xác, không phản ánh được tình hình vốn, tài sản nhà nước tại thời điểm báo cáo và người ta quan niệm rằng báo cáo này phản ánh tình hình sức khỏe của doanh nghiệp, tại thời điểm đó thì nhiều doanh nghiệp, trong đó có DNNN, các tập đoàn, tổng công ty cũng làm tốt báo cáo, tuy nhiên một số cũng còn rất tồn tại.

Điều này khi báo cáo không trung thực, không đầy đủ mà khi công khai ra thì người tiếp cận đầu tư, đặc biệt các nhà đầu tư, quản lý, hậu quả khó lường.

 Những tồn tại, hạn chế và những hậu quả đã xảy ra, chúng tôi cho rằng xuất phát từ báo cáo tài chính. Đa số chúng tôi đánh giá để làm báo cáo này cũng nhiều người tham gia mà đặc biệt ở ở doanh nghiệp, các tập đoàn, tổng công ty, bộ phận tài chính kế toán hiện nay là người lập và đề xuất, sau đó lãnh đạo, hội đồng quản trị, giám đốc và tổng giám đốc, hội đồng quản trị thông qua, hội đồng thành viên thông qua thì công bố, trình báo cáo này. Các cơ quan thanh tra, kiểm tra ngoài doanh nghiệp, các cơ quan thanh tra trong nội bộ phải kiểm tra và phát hiện, nếu phát hiện thì báo cáo để chỉnh sửa, hoàn thiện báo cáo.

Tuy nhiên, nhiều trường hợp không có phát hiện, do đó, khi xử lý những thông tin trên báo cáo tài chính, hết sức nguy hiểm, phức tạp, chúng ta nghĩ rằng doanh nghiệp mà bị bệnh rồi nhưng bác sĩ không chẩn đoán, phát hiện được, không bóc tách được loại bệnh, và không có đơn thuốc thì bệnh càng ngày càng nặng thêm và đi đến phá sản là điều đương nhiên. Chúng tôi qua thanh tra, thấy nhiều đơn vị làm tốt nhưng một số đơn vị có xu hướng là các đơn vị kinh doanh có hiệu quả thường không báo cáo hết, kể cả về thuế, kể cả hoạt động sản xuất, kinh doanh, với mong muốn thận trọng, vì hiện nay mình hoạt động trong kinh tế thị trường, do đó thận trọng giữ lại để làm nguồn dự phòng, để phòng khi rủi ro trong những năm tiếp theo, do đó báo cáo cũng không chính xác.

Đối với doanh nghiệp bị lỗ, thất thoát, gây mất mát tài sản vốn nhà nước thì thường cố tình tạo ra khoản có lợi mà không có thật để che giấu những khoản đó, hòng tránh trách nhiệm, tiếp tục tìm cơ hội khắc phục.

Một số ít cán bộ hoạt động trong ngành tài chính kế toán thì nhìn chung là tốt nhưng chuyên môn có một số hạn chế, đạo đức nghề nghiệp trong báo cáo chưa được trong sáng, hội nghề nghiệp đặc biệt là kế toán, kiểm toán, chưa giám sát được hoạt động nghề nghiệp này, chưa có chế tài xử lý nghiêm, do đó những sai sót hạn chế vẫn tiếp tục tiếp diễn. Cơ quan thanh tra, kiểm tra không làm hết tránh nhiệm, do đó những tồn tại về đánh giá giám sát, tôi cho rằng xuất phát từ báo cáo tài chính, hiện nay các sai phạm phát hiện, tôi thống nhất trong đánh giá của báo cáo giám sát.

Ở đây sai lớn nhất là sai về hạch toán doanh thu chi phí, kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh, nộp thuế không được hạch toán và không được hình thành đầy đủ trong báo cáo. Những thủ tục đầu tư, mua sắm tài sản công, đầu tư các dự án trong thủ tục cũng như trong tổ chức thực hiện, giá trị thực của nó có đúng thế hay không? Hay đầu tư ra ngoài ngành là chính.

Như các vị đại biểu Quốc hội biết trong giai đoạn đó đầu tư ra ngoài ngành rất mạnh. Đầu tư thì đa ngành, đa lĩnh vực, do đó một mặt phòng ngừa rủi ro, một mặt không kiểm soát được thì lúc đó hậu quả rất lớn và sử dụng vốn thì cơ cấu cũng không hợp lý. Lấy vốn dài hạn sử dụng cho vốn ngắn hạn. Vốn dài hạn thì làm cho ngắn hạn. Như vậy, mục đích cũng như đối tượng vốn không đúng, làm cho tình hình tài chính phức tạp. Đấy là những sai sót trong quá trình tổ chức quản lý vốn và tài sản.

Vấn đề này trong báo cáo của Thanh tra Chính phủ cũng như báo cáo giám sát thì tôi rất đồng tình.

Sắp tới để hoàn thiện, Trung ương cũng như Quốc hội, Chính phủ đã có chủ trương sắp xếp, quản lý lại vốn theo các cơ quan quản lý cũng như tổ chức thực hiện. Tôi đề nghị sắp tới chúng ta phải tăng cường hoạt động hiệu lực, hiệu quả của hội nghề nghiệp, đặc biệt là hội kế toán, kiểm toán có trách nhiệm trong việc xử lý đạo đức nghề nghiệp.

 Hiện nay các đơn vị tư vấn, những người làm  kế toán, kiểm toán, những người hoạt động trong lĩnh vực này, nếu không tôn chỉ được đạo đức nghề nghiệp của mình thì phải có thái độ, bởi vì báo cáo rất phức tạp, khi đưa ra công chúng thì người ta sử dụng tài liệu này, tôi cho rằng rất nguy hiểm, nó có hậu quả.

Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và kiểm toán. Vấn đề này trong báo cáo tôi nhất trí, theo tôi phải có một cơ chế khuyến khích lãnh đạo các doanh nghiệp, đặc biệt là tổng giám đốc khi điều hành, quản lý, sử dụng vốn, tổ chức kinh doanh làm có lãi hơn mức bình thường thì phải có một cơ chế % gì  đó... để động viên. Như vậy, tôi nghĩ mới khuyến khích, nếu chúng ta đánh đồng, sai thì xử lý trách nhiệm nhưng làm ra phần có lợi nhiều hơn thì chúng ta không có thái độ rõ ràng thì tôi nghĩ không khuyến khích. Do đó, trong cơ chế thị trường, chúng ta phải quan tâm tới giải pháp này.

Trong cổ phần hóa, tôi thấy có 3 nội dung:

Thứ nhất, xác định giá trị doanh nghiệp, trong đó lưu ý đánh giá các phương pháp chúng ta sử dụng cũng như các yếu tố hình thành nên giá trị. Hiện nay trong những yếu tố đánh giá đó có 2 yếu tố rất đáng quan tâm, đó là giá trị tiền thuê đất và quyền sử dụng đất, giá trị này hình thành và tôi đồng tình ở chỗ theo giá thị trường nhưng thị trường phải được thực hiện. Còn trong đánh giá khi xác định cổ phần hóa thì phương án hiện nay sắp xếp xử lý sử dụng đất và nhà chuyển đổi thì chúng ta thực hiện không nghiêm. Đối với doanh nghiệp họ phải tối ưu hóa lợi nhuận, đây là điều tôi cho rằng không phải trách nhưng quản lý nhà nước chúng ta cần quan tâm nếu chúng ta thuê hàng năm thì không có giá trị hình thành. Nếu thuê 50 hay chuyển quyền sử dụng đất thì giá trị rất lớn như vậy khi cổ phần hóa thì đất thuế hàng năm khác hay đất chuyển đổi mục đích khác hay khi chuyển từ thuê hàng năm sang thuê dài hạn chúng ta phải tính toán và đấu giá và chuyển sang giá trị thị trường. Nếu chúng ta làm tốt việc này sẽ khắc phục được việc thất thoát tài sản trong định giá doanh nghiệp, vì định giá rất phức tạp, khó và tế nhị, nó mang tính lịch sử và tính chất có những cái định lượng được nhưng có những cái tương đối. Hiện nay giá trị thương hiệu xác định chính xác rất khó, do đó tôi đề nghị quan tâm trong việc xác định giá trị doanh nghiệp.

Thứ hai, đánh giá quyền sử dụng đất và chuyển đổi mục đích.

Thứ ba, hiện nay phương án bố trí sắp xếp nhà đất trước khi cổ phần hóa phải làm triệt để. Một số cuộc thanh tra hiện nay có cái đã công bố kết luận, có cái chưa có kết luận nên nội dung này liên quan nhiều. Khi nhắm vào mua doanh nghiệp, họ mua những doanh nghiệp cổ phần có vị trí đất tốt thuê hàng năm nhưng khi chuyển đổi chúng ta không tính toán kỹ dễ thất thoát.

Ông Đinh Tiến Dũng - Bộ trưởng Bộ Tài chính

Bộ trưởng Bộ Tài chính:

Các quy định về kỷ luật, kỷ cương hành chính và xử lý vi phạm còn chưa đủ mạnh

Tôi xin báo cáo thêm với Quốc hội 5 nội dung như sau:

Một, về kết quả giám sát tình hình ban hành văn bản pháp luật. Về kết quả đạt được chúng tôi nhất trí với báo cáo của đoàn giám sát. Về tồn tại, hạn chế và những vướng mắc bất cập, đánh giá tại báo cáo giám sát cho thấy một số chủ trương, chính sách chậm được thể chế hóa, song báo cáo cũng cho thấy một cách đầy đủ. Trong bất kỳ giai đoạn nào đều có văn bản pháp luật ở các cấp độ khác nhau như luật, nghị quyết của Quốc hội, nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng, các thông tư của các bộ, ngành quy định điều chỉnh việc quản lý sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại doanh nghiệp và cổ phần hóa DNNN. Do đó, có thể thấy không có khoảng trống pháp luật về quản lý, sử dụng vốn nhà nước và cổ phần hóa DNNN. Đồng thời, tiếp tục rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật, đảm bảo đầy đủ, đồng bộ pháp luật về quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại doanh nghiệp và cổ phần hóa DNNN.

Thưa Quốc hội, lĩnh vực quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp và cổ phần hóa DNNN là một nội dung mang tính phức tạp. Gắn với sự đổi mới của nền kinh tế và thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường hội nhập sâu rộng đòi hỏi phải có sự cập nhật, đổi mới hoàn thiện theo từng thời kỳ cho phù hợp với định hướng phát triển của Đảng. Thực tế vận động của nền kinh tế và hoạt động của doanh nghiệp, do đó tôi cho rằng việc kịp thời cập nhật đổi mới, hoàn thiện cơ chế chính sách gắn với sự đổi mới, hội nhập của nền kinh tế, từng bước hoàn thiện, khắc phục tồn tại, hạn chế là cần thiết. Chúng tôi cũng rất tán thành với kiến nghị của đoàn, chúng ta sẽ phải xây dựng một pháp lý cao hơn nghị định của Chính phủ về cổ phần hóa DNNN, lâu nay chúng ta làm ở cấp nghị định.

Một số vướng mắc về cổ phần hóa trong giai đoạn 2011 - 2016 nêu trong báo cáo như thời gian cổ phần hóa, xác định giá trị doanh nghiệp, xác định giá khởi điểm chào bán, chính sách bán cổ phần cho cổ đông chiến lược, xử lý về tài chính, về công nợ đã được định hướng chỉ đạo tại Nghị quyết số 12 của Trung ương về thể chế hóa và thể chế hóa Nghị quyết số 12 của Trung ương, vừa qua Chính phủ đã ban hành Nghị định số 126 có hiệu lực thi hành từ 01 tháng 01 năm 2018.

Về mô hình của SCIC, chúng tôi cho rằng mô hình đầu tư kinh doanh vốn nhà nước, một trong nhiệm vụ chính của SCIC là kinh doanh đầu tư vào lĩnh vực có hiệu quả, sinh lời cao để gia tăng giá trị vốn nhà nước theo đúng kế hoạch được chủ sở hữu phê duyệt. Đồng thời là doanh nghiệp nên việc thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp đã cổ phần hóa theo cơ chế thị trường sẽ thuận lợi và phù hợp. Do đó, cần nhìn nhận đánh giá đầy đủ chức năng nhiệm vụ của chính doanh nghiệp này.

Về nguyên nhân của tồn tại, hạn chế và vướng mắc bất cập, chúng tôi xin bổ sung thêm một nguyên nhân là các quy định về kỷ luật, kỷ cương hành chính và xử lý vi phạm còn chưa đủ mạnh dẫn đến việc chấp hành các quy định pháp luật về quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại doanh nghiệp và cổ phần hóa DNNN của các bộ, ngành và doanh nghiệp trong thời gian vừa qua nhiều lúc, nhiều nơi còn hạn chế và bị vi phạm.

Nôi dung thứ hai, về kết quả giám sát việc thực hiện chính sách pháp luật về quản lý sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại doanh nghiệp. Chúng tôi nhất trí với các nội dung đánh giá kết quả đạt được của đoàn giám sát.

Về tồn tại, hạn chế và một số vi phạm, tôi xin báo cáo thêm như sau. Hiệu quả hoạt động của DNNN giai đoạn 2011 - 2016 cần phải đánh giá gắn với tình hình suy thoái kinh tế thế giới, ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế nước ta và trong điều kiện chúng ta hội nhập sâu rộng. Đồng thời phải gắn với tiến trình cổ phần hóa thoái vốn nhà nước, đánh giá trong bối cảnh sắp xếp đổi mới DNNN được đẩy mạnh nên quy mô của khu vực DNNN có thay đổi.

Cơ cấu tổ chức của DNNN hình thành theo mô hình công ty mẹ, công ty con, hoạt động đầu tư vào doanh nghiệp liên kết, trong đó công ty con chủ yếu là công ty cổ phần. Khi đánh giá hiệu quả doanh nghiệp theo các chỉ tiêu về quy mô doanh thu, quy mô tài sản phải loại trừ một phần hoặc toàn bộ doanh thu tài sản thuộc các công ty con, công ty liên kết theo quy định về hợp nhất báo cáo tài chính của pháp luật kế toán.

Mặt khác, DNNN là khu vực chính thực hiện nhiệm vụ an sinh xã hội, cung cấp dịch vụ sản phẩm công ích và những địa bàn khó khăn và ngay chính sách của chúng ta tới đây trong định hướng sửa Luật Thu nhập doanh nghiệp, chúng tôi sẽ báo cáo với Quốc hội, chúng ta cho phép DNNN làm an sinh xã hội nhưng đưa vào chi phí, điều này không minh bạch.

Nếu như làm an sinh xã hội mà lấy từ lợi nhuận sau thuế thì tốt, ngay trong chính sách chúng ta cũng chưa minh bạch, tới đây sẽ phải tính lại, đây là những lĩnh vực địa bàn kinh doanh hiệu quả không cao, hoặc không thuận lợi nên cũng ảnh hưởng giảm chỉ tiêu lợi nhuận chung khi đánh giá hiệu quả của DNNN.

Chúng ta cũng nói chúng ta sẽ làm vào những nơi các thành phần kinh tế khác không làm, ta giao cho DNNN. Do đó, việc đánh giá hiệu quả DNNN cần phải chú ý đến đặc điểm này để đảm bảo phản ánh chính xác quy mô vai trò hiệu quả của DNNN.

Báo cáo của đoàn giám sát đã nêu một số vi phạm trong việc thực hiện chính sách pháp luật về quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại doanh nghiệp để lại hậu quả nặng nề, lâu dài, khó khắc phục về tài chính và buộc phải xử lý kỷ luật cán bộ. Các vi phạm cho thấy tập trung chủ yếu khâu tổ chức thực hiện và nguyên nhân chính do cố ý vi phạm các quy định về quản lý sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp liên quan đến trách nhiệm nghĩa vụ của một số thành viên lãnh đạo doanh nghiệp. D

o đó, không phải toàn bộ khu vực DNNN có vi phạm để phản ánh đúng vai trò vị trí DNNN như Nghị quyết Trung ương 5 khóa XII đã nêu. Cùng cơ chế chính sách nhà nước, DNNN là công cụ quan trọng đảm bảo thực hiện có hiệu quả chính sách ổn định vĩ mô, kiềm chế lãm phát đối phó với biến động thị trường. Tạo nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước, đóng góp quan trọng trong xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Thực hiện nhiệm vụ quốc phòng an ninh, chính sách an sinh xã hội phù hợp với đánh giá mặt được của DNNN nêu trong báo cáo.

Thứ ba về kết quả giám sát thực hiện chính sách pháp luật về cổ phần hóa DNNN. Về kết quả đạt được qua rà soát sơ bộ tôi xin báo cáo bổ sung với Quốc hội như sau:

Giai đoạn trước năm 2011 chúng ta cổ phần hóa 3.958 doanh nghiệp với tổng giá trị vốn nhà nước là 139.000 tỷ đồng, số vốn nhà nước dự kiến bán ra là 36.00 tỷ đồng, thực tế bán được 34.000 tỷ đồng. Số vốn nhà nước chiếm 2,4% tổng số vốn nhà nước so với số vốn cuối năm 2016 vốn nhà nước tại doanh nghiệp 1.398.000 tỷ đồng.

Giai đoạn 2011 - 2016 có 571 doanh nghiệp so với tổng giá trị vốn nhà nước là 214 ngàn tỷ đồng, số vốn nhà nước dự kiến bán là 73 ngàn tỷ đồng, thực tế bán 43 ngàn tỷ đồng. Số vốn nhà nước thực bán chiếm 3% tổng số vốn nhà nước cuối năm 2016. Nếu tính cả số vốn nhà nước đã thoái là 14,6 ngàn tỷ đồng thì giai đoạn này vốn nhà nước cổ phần hóa và thoái vốn chiếm 4,1%. Tổng số vốn nhà nước so với cuối năm 2016 đúng như báo cáo giám sát là rất thấp, rất ít, có doanh nghiệp chỉ bán được 1% đến 2%. 

Năm 2017 có 69 doanh nghiệp cổ phần hóa với tổng giá trị vốn nhà nước là 160 ngàn tỷ đồng, số vốn nhà nước dự kiến bán ra là 75.000 tỷ. Thực tế 5 tháng vừa qua chúng ta IPO được 21 doanh nghiệp thu được 5.000 tỷ đồng. Nếu tính tổng số vốn nhà nước được thoái là 9.000 tỷ đồng thì thực thu là 139.000 tỷ đồng, trong đó có Sabeco. Ttỷ lệ vốn nhà nước bán khi cổ phần hóa và thoái vốn là 14.000 tỷ đồng chiếm 1% so với cốn nhà nước vào cuối năm 2016 tại doanh nghiệp. Như vậy, hết năm 2017 tỷ lệ vốn nhà nước thực bán trong cổ phần hóa và thoái vốn khoảng 7,5% tính theo tổng số vốn nhà nước cuối năm 2016.

Quá trình cổ phần hóa còn vướng mắc liên quan đến đất đai, một số doanh nghiệp sử dụng nhiều diện tích đất vàng tại nhiều địa phương chưa thống nhất được phương án sử dụng đất đai với địa phương trước khi cổ phần hóa. Vấn đề này nhiều đại biểu đã phát biểu, thực tế quá trình Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố có ý kiến trả lời về phương án sử dụng đất và giá đất thường rất chậm dẫn đến việc phải kéo dài thời gian điều chỉnh tiến độ cổ phần hóa. Đây là một thực tế, một số địa phương chưa kiên quyết trong việc thu hồi, xử lý đất đai của các doanh nghiệp sử dụng đất không đúng mục đích, vi phạm pháp luật về đất đai.

Đây chính là những tồn tại của khâu tổ chức thực hiện đã làm ảnh hưởng đến tiến độ và kết quả của quá trình cổ phần hóa DNNN, phản ánh chưa đầy đủ giá trị doanh nghiệp, khi cổ phần hóa cũng như nguyên nhân một số doanh nghiệp, cá nhân lợi dụng để vi phạm quản lý, sử dụng đất đai trước, trong và sau khi cổ phần hóa chuyển DNNN sang công ty cổ phần.

Trên cơ sở tổng kết, đánh giá quá trình cổ phần hóa trong giai đoạn 2011-2016 bám sát tinh thần nghị quyết lần thứ 5 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tiếp tục cơ cấu đổi mới và nâng cao hiệu quả DNNN. Chúng tôi đã trình với Chính phủ ban hành Nghị định số 126 về chuyển DNNN và Công ty TNHH một thành viên do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ thành công ty cổ phần và có hiệu lực từ 01/01/2018 với các nội dung thì nó đã cơ bản khắc phục các vướng mắc của giai đoạn trước mà từ sáng đến giờ các vị đại biểu đã phát biểu và trong phụ lục báo cáo giám sát đã nêu các nội dung này.

Riêng về giá trị quyền sử dụng đất trong cổ phần hóa DNNN, theo Hiến pháp năm 2013 tại Điều 53 và quy định của Luật Đất đai năm 2013 Chính phủ thực hiện quyền chủ sở hữu đối với vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp và thay mặt toàn dân thực hiện quyền sở hữu về đất đai. Quy định về cổ phần hóa trước đây và hiện nay tại Điều 30 của Nghị định 126 đều quy định các DNNN khi cổ phần hóa phải hoàn thành phương án sử dụng đất đai và sắp xếp về nhà đất, trước thời điểm quyết định cổ phần hóa. Phương án sử dụng đất phải phù hợp với kế hoạch sử dụng đất của địa phương, phù hợp với ngành nghề sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp và phải được sử dụng đúng mục đích, sử dụng đất do địa phương phê duyệt.

Theo quy định tại Nghị định 126 công ty cổ phần sau cổ phần hóa phải sử dụng đúng mục đích và phương án sử dụng đất đã được phê duyệt. Sau 60 ngày, kể từ ngày chuyển sang công ty cổ phần phải thực hiện thuê đất, trả tiền thuê đất hàng năm theo quy định. Giá đất thuê trả tiền hàng năm doanh nghiệp phải ký với địa phương tại thời điểm cổ phần hóa sát với thị trường theo quy định của Luật Đất đai. Trường hợp doanh nghiệp sử dụng không đúng mục đích, chưa phù hợp với quy hoạch thì Nhà nước thu hồi và doanh nghiệp phải trả lại cho nhà nước để sử dụng vào mục đích khác kinh doanh hiệu quả hơn. Giá trị đất được giao, giá trị đất thuê trả tiền một lần của DNNN khi cổ phần hóa đều được tính vào giá trị doanh nghiệp và các doanh nghiệp phải chuyển sang thuế đất trả tiền hàng năm theo đúng quy định. Đối với trường hợp thoái vốn nhà nước thì giá trị quyền sử dụng đất thuê phải được tính vào giá khởi điểm trước khi đấu giá theo Nghị định 32 năm 2018 của Chính phủ.

Tóm lại, trong quá trình cổ phần hóa DNNN, việc xây dựng, phê duyệt phương án sử dụng đất của doanh nghiệp là rất quan trọng. Và quan trọng hơn là sau cổ phần hóa, chính quyền địa phương nơi doanh nghiệp có đất đai phải quản lý chặt chẽ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, đặc biệt là mục đích sử dụng đất, quy hoạch xây dựng khi doanh nghiệp có nhu cầu chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất sản xuất sang đất ở, đất thương mại, phù hợp với quy hoạch xây dựng thì phải thu hồi, đấu giá công khai để thu về cho nhà nước với giá trị cao nhất, và chúng tôi cho rằng trách nhiệm này thuộc về chính quyền địa phương nơi trực tiếp quản lý đất đai./.

Còn trong quy định đất đai, nếu như trên 10ha thì thẩm quyền của Thủ tướng, dưới thì thẩm quyền địa phương, trong thời gian qua chúng ta làm như thế, nhưng việc chuyển đổi doanh nghiệp thì như có đồng chí đại biểu nói là tối đa hóa lợi nhuận, nhưng trong đó không loại trừ những động cơ không trong sáng, và người quyết định cho chuyển mục đích sử dụng đất từ đất kinh doanh hoặc là trụ sở văn phòng sang đất nhà ở thì phải tính tiền sử dụng đất theo đất ở và đất ở đây cũng là yêu cầu theo thị trường nhưng chúng ta không làm được điều đó, vì thế không rõ trách nhiệm, trắng đen lẫn lộn, thiếu minh bạch và thất thoát, rất nhiều đại biểu chúng tôi thấy rất đúng, nên kỳ này chúng tôi kiến nghị là xiết chặt hơn khâu này, đặc biệt là kiểm định đổi mục đích. Đây là yếu kém trong khâu quản lý sử dụng đất đai, chứ cổ phần hóa thì tôi e là cũng chưa hẳn thuyết phục, doanh nghiệp bình thường người ta cũng thế, tư nhân người ta cũng chuyển đổi, nhưng người quyết định chuyển đổi chính là chính quyền địa phương nơi quản lý đất đai này theo quy định của Luật Đất đai.

Mặc dù cơ chế tháo gỡ đã ban hành đầy đủ nhưng tiến độ cổ phần hóa thoái vốn những tháng đầu năm 2018 vẫn còn chậm, mới có 5 doanh nghiệp được phê duyệt phương án, việc chậm trễ này vẫn ở khâu tổ chức thực hiện và vẫn do những nguyên nhân như báo cáo giám sát của đoàn giám sát đã nêu, đặc biệt là quá trình sắp xếp, xử lý đất đai khi cổ phần hóa còn rất chậm, do đó Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ cần chỉ đạo quyết liệt để có sự vào cuộc đồng bộ gắn với trách nhiệm cụ thể của từng cá nhân lãnh đạo doanh nghiệp, cơ quan đại diện chủ sở hữu hiện nay theo phân cấp là các bộ, ngành, các địa phương là chủ sở hữu doanh nghiệp. Chính quyền địa phương, nơi doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa có quản lý ruộng đất trên địa bàn trong khâu tổ chức thực hiện và định kỳ, có sự giám sát, kiểm tra, xử lý việc chậm trễ.

Vấn đề thứ tư, về nguyên nhân của tồn tại, hạn chế, chúng tôi xin bổ sung một nguyên nhân là kỷ luật, kỷ cương hành chính của một số cá nhân, tổ chức, đơn vị giữ nghiêm, đặc biệt là kỷ luật, kỷ cương trong quản lý, sử dụng đất đai mà DNNN đang quản lý trước, trong và sau khi cổ phần hóa DNNN, tính công khai, minh bạch trong quá trình cổ phần hóa thời gian vừa qua là chưa cao, còn phải tiếp tục như ý kiến đại biểu đã nêu.

Nội dung thứ năm, qua phát biểu của các vị đại biểu Quốc hội thì chúng tôi xin báo cáo với Quốc hội 3 nội dung nhỏ:

Một, thực hiện kết quả đầu tư ra nước ngoài của DNNN, chúng tôi đã báo cáo và đồng chí Thủ tướng cũng nhất trí là Chính phủ cũng sẽ có tổng hợp, phân tích và có báo cáo riêng gửi đến các vị đại biểu Quốc hội cũng như là Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong thời gian tới.

Hai, tiền cổ phần hóa thoái vốn DNNN tại doanh nghiệp do các địa phương làm chủ sở hữu. Như Quốc hội đã biết là trong thời gian vừa qua, chúng ta có thông qua Nghị quyết 54 về phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, trong đó Quốc hội cũng đã cho phép việc cổ phần hóa thoái vốn DNNN do Thành phố Hồ Chí Minh làm chủ sở hữu thì để lại cho Thành phố Hồ Chí Minh, đưa vào cân đối ngân sách Thành phố Hồ Chí Minh và Thành phố Hồ Chí Minh phải đầu tư các công trình, dự án trọng điểm của thành phố. Về việc này qua ý kiến các địa phương chúng tôi sẽ tổng hợp và báo cáo Chính phủ, Thủ tướng, báo cáo cấp có thẩm quyền xử lý đúng quy định. Tinh thần chúng tôi thấy ý kiến này rất cần nghiên cứu.

Ba, ý kiến đại biểu Phương về đánh giá tài sản trong quá trình cổ phần hóa, kể cả doanh nghiệp lớn và nhỏ. Đại biểu Phương cho rằng cán bộ tài chính vào đánh giá, nhưng xin báo cáo tất cả quy định của chúng ta từ trước đến nay, trong giai đoạn 2011-2016 và kể cả hiện nay không quy định Bộ Tài chính đánh giá giá trị tài sản mà chủ sở hữu là bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các tỉnh và doanh nghiệp đề xuất thuê tư vấn xác định giá trị doanh nghiệp. Giá trị doanh nghiệp do bộ, ngành và Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt, còn doanh nghiệp lớn do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, chúng tôi sẽ tham gia khi có yêu cầu của Thủ tướng. Có lẽ doanh nghiệp xác định giá trị doanh nghiệp nói của Bộ Tài chính hay của gì anh em ta mà không hiểu đôi khi không đúng.

Tôi xin báo cáo thêm với Quốc hội một số ý kiến như vậy. Xin trân trọng cảm ơn Quốc hội./.

Trí Dũng (lược ghi)
* Ý kiến bạn đọc
* Tin đáng chú ý
* Các tin liên quan