Cập nhật ngày 19/05/2013 - 21:28:01

           

Kinh tế Việt Nam: Phân tích - Nhận định - Dự báo

- Việt Nam vẫn có hy vọng (dù ít) đuổi kịp Malaysia, Indonesia và Thái Lan (MIT) nhờ có thể tìm được “điểm cân bằng” giữa chủ nghĩa tư bản nhà nước (state capitalism) và phát triển kinh tế.

Việt Nam: Từ “chủ nghĩa tư bản nhà nước” tới “thân hữu cánh hẩu”

Năm 2011, Long S. Le[1] đánh giá Việt Nam vẫn có hy vọng (dù ít) đuổi kịp Malaysia, Indonesia và Thái Lan (MIT) nhờ có thể tìm được “điểm cân bằng” giữa chủ nghĩa tư bản nhà nước (state capitalism) và phát triển kinh tế[2].

Tới năm 2013, tờ báo kinh doanh Bloomberg sử dụng thuật ngữ “thân hữu cánh hẩu” (nguyên văn: crony communist) khi mô tả nhân tố làm mất cân bằng giữa các quyền lực lãnh đạo, và giữa lãnh đạo với quần chúng. Theo ông Trần Văn Thọ[3], tập trung nguồn lực cho doanh nghiệp nhà nước (DNNN) là làm giảm sức cạnh tranh quốc tế của kinh tế Việt Nam.

Chiến lược phát triển kinh tế mà ông Thọ đặt ra có lộ trình 3 bước:

(1) Để kệ các DNNN, quay sang chăm tư nhân và FDIs để khu vực ngoài quốc doanh lớn mạnh lên;

(2) Tái cấu trúc DNNN và không cần lo lắng về những hệ lụy cho nền kinh tế chung vì khu vực tư nhân và khu vực FDI đã lớn mạnh, sẽ đảm đương được;

(3) Khi các DNNN đã có hiệu quả hơn khi tiến hành tư nhân hóa/cổ phần hóa[4].

Lộ trình này hợp lý về tư duy, nhưng xem chừng chưa triệt để hoặc ông Thọ chưa phân tích sâu vào những nhân tố để lộ trình được triển khai trôi chảy và thành công.

Sau một quãng thời gian ngắn, từ 2011 – 2013, nền kinh tế Việt Nam chưa đạt được bước dịch chuyển tiến bộ nào, thay vào đó, những vấn đề và thách thức nội tại đã biến hóa và dường như đang trầm trọng hơn.

M&A: Cơ hội trong khủng hoảng và mối lo thâu tóm

M&A ở Việt Nam bắt đầu phổ biến từ khoảng năm 2000 và ngày càng nở rộ từ năm 2005.

Trước khi gia nhập WTO vào năm 2007, mỗi năm có không quá 50 vụ M&A, song vài năm trở lại đây, hoạt động M&A đã có sự gia tăng cả về số lượng và giá trị giao dịch. Trong đó, đáng lưu ý nhất là năm 2011, với tổng giá trị thương vụ M&A ở mức kỷ lục 6,3 tỷ USD. Năm 2012, trong khi quy mô thị trường M&A tại Việt Nam giảm đáng kể so với năm 2011, đạt 4,9 tỷ USD với tổng số 157 thương vụ, thì tổng giá trị các thương vụ của các tập đoàn nước ngoài vẫn duy trì ở mức cao 3,5 tỷ USD và chủ yếu là các thương vụ lớn. Trong quý 1/2013, quy mô thị trường đạt khoảng 676 triệu USD với 14 thương vụ[5].

M&A, một mặt, được xem như cơ hội giúp doanh nghiệp đổi mới công nghệ, tái cấu trúc hoạt động, mở rộng thị phần, thúc đẩy hợp tác chiến lược. Lực lượng khởi nghiệp Việt Nam cũng nhìn nhận M&A như giải pháp thu hồi vốn đầu tư với lợi nhuận cao, phòng ngừa rủi ro kinh doanh và bất trắc của môi trường kinh tế[6].

Trong bối cảnh kinh tế suy thoái như hiện nay, các doanh nghiệp nhỏ “đầu quân” cho các tập đoàn lớn như một biện pháp chống đỡ khó khăn và cải thiện năng lực kinh doanh.

Tại Việt Nam, các nhà đầu tư Nhật Bản đang dẫn đầu thị trường M&A năm 2012. Tuy nhiên, sức hấp dẫn của thị trường Việt Nam với nhà đầu tư Nhật vẫn chỉ là hai yếu tố quen thuộc:

1. Tiềm năng tăng trưởng: có thể hiểu là sức tiêu dùng của người dân còn tăng lên. Với tâm lý chuộng hàng chất lượng cao của Nhật, điều này có thể hiểu được. Dù sức mua chung của toàn nền kinh tế có giảm thì hàng Nhật vẫn tiêu thụ tốt (tăng thị phần lên so với các hàng hóa khác) nhờ giá thành giảm (làm tại Việt Nam và tận hưởng các ưu đãi đầu tư, giá nhân công rẻ).

2. Giá lao động rẻ: Thực tế này đặt ra những câu hỏi về đích đến của nền kinh tế Việt Nam nếu cứ mãi áp dụng cách thức phát triển và thu hút đầu tư kiểu này. Có lẽ, phải rất lâu nữa, khả năng sáng tạo, tiếp cận và nắm bắt kiến thức mới, thậm chí là đóng góp tạo ra kiến thức mới của người lao động Việt Nam mới trở thành ưu thế thu hút chú ý của các nhà đầu tư nước ngoài.

Bên cạnh khu vực tư nhân, Chính phủ Nhật Bản còn chủ động tạo những kênh dẫn vốn mới vào Việt Nam. Chương trình “Tín dụng Hỗ trợ Đầu tư của Khu vực Doanh nghiệp” do JICA triển khai là một minh họa. Kể từ tháng 3/2011, JICA – vốn hoạt động tại Việt Nam như một tổ chức tài trợ phát triển – sẽ tham gia các hoạt động đầu tư có tính thương mại cao hơn. Cụ thể:

JICA sẽ cấp vốn tín dụng cho các công ty liên doanh giữa các nhà đầu tư Nhật Bản và Việt Nam, hoạt động trong lĩnh vực: phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội như cầu, đường, cảng, cấp nước, xử lý nước thải, sân bay, bệnh viện, trung tâm dạy nghề…

JICA cung cấp tín dụng dài hạn bằng đồng Yên, lãi suất 2% đến 3%/năm (tùy dự án), thời hạn vay 20 năm (ân hạn không quá 5 năm).

Tùy theo dự án, JICA có thể tham gia đầu tư với quy mô cổ phần nắm giữ không quá 25% dự án.

Toàn bộ chi phí xây dựng nghiên cứu khả thi của dự án sẽ được JICA tài trợ không hoàn lại.

Bên cạnh những biểu hiện lành mạnh của các cuộc M&A từ bên ngoài, thì trong nước lại đang nổi “sóng ngầm” đáng lo ngại. Không ít doanh nghiệp hiện nay đang lo ngại những nỗ lực thâu tóm thù địch từ các nhóm đối thủ cạnh tranh thông qua M&A. Những nỗ lực này thường bị gắn với sự kết hợp của một nhóm lợi ích bao gồm doanh nghiệp sản xuất – thương mại, tổ chức tài chính – tín dụng, và thậm chí cả hậu thuẫn chính sách[7].

Đã có nhận định rất trầm trọng rằng[8], toàn bộ nền kinh tế Việt Nam năm 2012 bao trùm bởi cơn cuồng phong thâu tóm doanh nghiệp không minh bạch, khiến hàng loạt doanh nghiệp bị phá sản. Sự không lành mạnh, thiếu minh bạch và sự lũng đoạn của các nhóm lợi ích về các chính sách tái cấu trúc hệ thống ngân hàng, về siết chặt tín dụng đã trở thành hung thủ tiêu diệt những doanh nghiệp lớn, triệt tiêu động lực kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam... theo kiểu “quân ta đánh quân mình”. Dự báo năm 2013 sẽ tiếp tục khó khăn và không loại trừ khả năng vẫn tiếp tục bị chi phối bởi nhóm lợi ích không lành mạnh.

Văn hóa kinh doanh ở Việt Nam thiếu hẳn sự khoan hòa cần thiết

VEF (ngày 30/4/2013) có bài “Doanh nghiệp Việt thích ra tòa hơn giảng hòa” nêu lên thực tế: 1% các vụ tranh chấp thương mại được giải quyết thông qua trọng tài thương mại. Dẫu vẫn biết “vô phúc đáo tụng đình” các bên tranh chấp vẫn thích đem nhau ra tòa hơn.

Bài viết chỉ ra các nguyên nhân như chưa có hiểu biết đầy đủ về công tác trọng tài thương mại, chưa có đủ tin tưởng vào năng lực đánh giá và phân xử của trọng tài. Tuy nhiên, nguyên nhân cốt yếu thì chưa được nêu rõ.

Văn hóa kinh doanh Việt Nam thiếu hẳn sự khoan hòa cần thiết. Điều này từ lâu đã được cụ Lương Văn Can chỉ ra như một điểm yếu của thương nhân Việt Nam. Thiếu khoan hòa vẫn được nhắc tới nhiều năm qua nhưng chưa có thái độ cải sửa kiên quyết.

Hai đối tác từng làm ăn thành công nhưng chỉ một lần có “trục trặc” là sẽ mãi không bao giờ nhìn mặt nhau. Mọi tranh chấp đều phải có bên thắng tuyệt đối theo kiểu “người thắng lấy tất”.

Cứ khăng khăng như vậy, doanh nghiệp Việt sẽ tự đánh mất những tiềm năng và cơ hội trong tương lai của chính mình.

Một khi có sự khoan hòa cần thiết, doanh nghiệp cũng tự có động lực xây dựng uy tín và gìn giữ danh tiếng kinh doanh.

Nguy cơ vỡ Quỹ Bảo hiểm xã hội

Xưa nay, mỗi lần nghe tin vỡ quỹ là dân cư lại xôn xao, nháo nhác. Nghe nhiều dường như cũng quen, nào là vỡ hụi, vỡ nợ huy động vốn lãi suất cao, vỡ nợ kinh doanh không còn gì để trả… Nhưng lần này là vỡ Quỹ Bảo hiểm xã hội (BHXH) thì không khỏi giật mình lo lắng.

Năm 2012, Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đã từng cảnh báo nguy cơ vỡ quỹ BHXH vào năm 2029[9]. Khả năng nguy cơ trở thành hiện thực rất cao và xác nhận bằng một đề xuất từ chính quỹ BHXH: cần tăng độ tuổi nghỉ hưu để tránh vỡ quỹ[10]. Nguy cơ này gia tăng khi ông Bùi Sỹ Lợi (Phó Chủ nhiệm Ủy ban các Vấn đề xã hội của Quốc hội) trong trả lời phỏng vấn Báo đất Việt nhận định: quỹ BHXH có thể vỡ trước thời điểm dự báo[11].

BHXH là một loại bảo hiểm dài hạn, nhằm đảm bảo an sinh xã hội cho người lao động khi về già. Hiện nay, quỹ BHXH có thể bị “vỡ” do đang đối mặt với nguy cơ mất cân đối thu –chi. Tính riêng trong 2 tháng đầu năm 2013, tổng mức thu bảo hiểm chỉ đạt 15.988 tỷ đồng, trong khi tổng số chi lên đến hơn 23.866 tỷ đồng, mất cân đối gần 7.900 tỷ đồng.

Bình quân mỗi năm, số người tham gia BHXH bắt buộc tăng khoảng 0,3 triệu người, nhưng số người nghỉ hưởng BHXH còn lớn hơn, khoảng 0,5 triệu người. Số đối tượng hưởng BHXH một lần còn có xu hướng năm sau tăng so với năm trước (năm 2012, số đối tượng hưởng BHXH một lần tăng 26% so với năm 2011).

Phản ứng có phần thờ ơ của công chúng trước nguy cơ này gây ngạc nhiên. Có thể giải thích với hai lý do:

  1. Theo luật định, quỹ BHXH được bảo hộ bởi Chính phủ nên sẽ không có chuyện bị “vỡ”. Ông Nguyễn Đình Khương, Phó TGĐ BHXH Việt Nam khẳng định rằng, nếu “vỡ quỹ”, Chính phủ phải bù đắp vào[12]. Điều này hoàn toàn hợp lý. Tuy nhiên, trong trường hợp phải bù thì Chính phủ sẽ lấy từ nguồn nào, cân đối ra sao để giảm thiểu tác động vĩ mô tiêu cực là những bài toán cần được giải cẩn trọng và thấu đáo.
  2. Không ít người tham gia BHXH với tâm lý “làm cho có, nộp cho xong” nhằm hoàn thành trách nhiệm và nghĩa vụ chứ hầu như không trông cậy vào khả năng đảm bảo cuộc sống sau khi nghỉ hưu từ tiền trợ cấp BHXH.

Cho dù với lý do nào thì niềm tin của người dân với hệ thống an sinh xã hội vẫn bị lung lay và suy giảm.

Đã có những giải pháp kỹ thuật được đề xuất nhằm hóa giải nguy cơ song đều chưa phải lời giải triệt để bởi mới chỉ tìm cách tăng thu, giảm chi hoặc kéo dài thời điểm phải chi trả chứ chưa nâng cao hiệu quả hoạt động và hiệu suất sử dụng vốn của quỹ BHXH:

  1. Có nhiều cách tăng mức đóng BHXH để tăng nguồn thu cho BHXH. Trở ngại là doanh nghiệp và người lao động hiện cùng phải đối diện với nhiều khó khăn kinh tế. Tăng mức đóng BHXH dù có mục tiêu dài hạn là phục vụ lợi ích người lao động nhưng trước mắt có thể sẽ triệt tiêu nguồn thu nhập của người lao động, bởi doanh nghiệp không chịu nổi gánh nặng chi phí phải giảm nhân sự, hoặc thậm chí là kết thúc sản xuất kinh doanh. Trong tình huống này, gánh nặng cho quỹ BHXH nhiều khả năng cũng gia tăng do phải thanh toán các khoản trợ cấp thất nghiệp.
  2. Tăng tuổi nghỉ hưu của người lao động, theo đó thời gian đóng bảo hiểm sẽ kéo dài và thời gian hưởng bảo hiểm rút ngắn đi. Tuy nhiên, giải pháp này gặp thách thức khá lớn vì bộ máy nhân sự của các doanh nghiệp, đặc biệt là DNNN sẽ trở nên cồng kềnh và cơ hội việc làm cho người trẻ tuổi càng thấp đi. Đó là chưa kể tới việc quyền lợi của người đóng BHXH sẽ bị ảnh hưởng.

Trong khi chưa xuất hiện thêm đề xuất nào về tăng cường năng lực quản trị rủi ro, cải thiện chất lượng dịch vụ BHXH, nâng cao hiệu quả kinh doanh nguồn vốn BHXH, thì mới đây, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cho biết sẽ trình Đề án Quỹ bảo hiểm Hưu trí bổ sung, theo đó người lao động khi về hưu có thể nhận thêm 10 triệu đồng/tháng cùng với mức lương hưu hiện hành[13]. Kỳ vọng về lợi ích rất hấp dẫn nhưng không đủ để xóa tan lo lắng và nhiều băn khoăn.

Nhìn ra thế giới:

"Pú-tủng" về quyền lực mềm

Trong bài viết trên Forign Policy ngày 29/4/2013, Joseph S. Nye – cha đẻ của lý thuyết quyền lực mềm – bày tỏ ngạc nhiên khi lý thuyết của ông được các nhà lãnh đạo Trung Quốc và Nga đang nỗ lực vận dụng. Song Nye dường như cũng không giấu sự thất vọng khi cả hai quốc gia lớn, một là nhất về dân số và một là lớn nhất về lãnh thổ, cùng chưa hiểu (Pú-tủng) về quyền lực mềm[14].

Quyền lực mềm của một quốc gia, theo Joseph S. Nye, trước hết nằm ở ba nguồn: văn hóa (văn hóa hấp dẫn được những người khác), giá trị về mặt chính trị (khi đất nước giữ những giá trị đó cả ở trong nước lẫn ở nước ngoài) và chính sách đối ngoại (khi những chính sách này được coi là chính danh và có giá trị đạo đức). Nhưng liên kết những nguồn lực này thành một khối không phải là công việc dễ dàng.

Việc thành lập Viện Khổng Tử ở Manila (Philippines) để dạy văn hóa Trung Quốc có thể giúp tạo ra quyền lực mềm, nhưng dường như sẽ khó lòng đạt được mục đích này khi Trung Quốc hăm dọa Philippines về quyền sở hữu dải đá ngầm Scarborough.

Tương tự như thế, Putin bảo các nhà ngoại giao của mình rằng “chuyển ưu tiên sang sử dụng quyền lực mềm, tăng cường vị trí của tiếng Nga” nhưng ông Sergei Karaganov, một nhà khoa học Nga, lại nói rằng sau cuộc tranh cãi với Georgia, Nga đã sử dụng “quyền lực cứng, trong đó có sức mạnh quân sự, vì nước này sống trong một thế giới nguy hiểm hơn nhiều… và vì nước này có ít quyền lực mềm – nghĩa là có ít sự hấp dẫn về xã hội, văn hóa, chính trị và kinh tế.”

Phần lớn quyền lực mềm của Mỹ là do xã hội dân sự chứ không phải chính phủ Mỹ tạo ra, đấy là các trường đại học và các quỹ, Hollywood và văn hóa đại chúng. Đôi khi nước Mỹ còn giữ được một phần sức mạnh mềm của mình là nhờ có một xã hội dân sự có thái độ phê phán và không bị kiểm duyệt, mặc dù hành động của chính phủ xói mòn nó (thí dụ như cuộc chiến Iraq). Nhưng chiến lược khôn ngoan phải là quyền lực cứng và mềm hỗ trợ lẫn nhau.

Ngược lại, Trung Quốc và Nga đã lầm khi nghĩ rằng nhà nước là công cụ chủ yếu của quyền lực mềm. Trong thế giới hiện nay, thông tin thì thừa, nhưng chú ý lại thiếu. Mà muốn được người ta chú ý thì phải khả tín. Tuyên truyền tốt nhất là không tuyên truyền gì cả (Nye, 2013).

Mặc cho tất cả những nỗ lực nhằm đưa Tân Hoa Xã và Truyền hình trung ương Trung Quốc thành những hãng cạnh tranh với CNN và BBC, chẳng có mấy người chịu xem hoặc nghe những chương trình mang nặng tính tuyên truyền như thế. Như The Economist nhận xét về Trung Quốc “Đảng không hiểu quan điểm của ông Nye rằng quyền lực mềm có xuất xứ chủ yếu từ các cá nhân, từ khu vực tư nhân, và từ xã hội dân sự. Vì vậy mà chính phủ tìm cách quảng bá những thần tượng của nền văn hóa cổ đại, họ nghĩ rằng những hình tượng đó có thể tạo được sức hấp dẫn trên toàn thế giới”. Nhưng quyền lực mềm không hoạt động theo cách ấy. Như ông Pang Zhongying ở trường Đại học Nhân dân (Renmin University) nhận xét, điều đó chứng tỏ “sự nghèo nàn trong tư duy”.

Sự phát triển của quyền lực mềm không cần phải là một trò chơi có tổng bằng không. Tất cả các nước đều được lợi nếu thấy rằng họ là những nước có sức hấp dẫn lẫn nhau. Nhưng muốn thành công thì trong chính sách, Nga và Trung Quốc phải có lời nói đi đôi với việc làm, phải có thái độ tự phê bình và giải phóng toàn bộ tài năng của những xã hội dân sự của chính họ. Đáng tiếc là chuyện này sẽ không thể xảy ra trong một sớm một chiều./.

Nhóm nghiên cứu độc lập thuộc ĐHVP Research – DHVP Ecopolitik

Theo Tạp chí Kinh tế và Dự báo số 9/2013

    


[1] Giáo sư và là Giám đốc Internanoinal Initiatives for Global Studies, University of Houston

[2] Long S. Le (2011). Vietnam’sstate capitalism and the rise of Southeast Asia, East Asia Forum, 17/2/2011

[3] Giáo sư Kinh tế tại School of Social Sciences, Waseda University

[4] Tran Van Tho (2013). The problem of Vienamese gradualism in economic reform, East Asia Forum, 12/4/2013

[5] VnExpress, Doanh nghiệp Nhật dẫn đầu về M&A tại Việt Nam, 25/4/2013

[6] Vietfin, M&A trong giai đoạn chuyển đổi của kinh tế Việt Nam, 26/4/2012

[7] Xem thêm: DHVP Research, “Về chủ nghĩa tư bản thân hữu”, DHVP Ecoplitik, Vo;.1, No. 2 p. 46, 6/4/2013

[8] TTVN, Tâm thư của bà Hoàng Yến về những “âm mưu rình rập” Tập đoàn Tân Tạo, 18/4/2013

[9] Phan Long, “Nguy cơ vỡ quỹ bảo hiểm xã hội”, Báo Đầu tư, 28/8/2012

[10] Báo Lao động, Không tăng tuổi nghỉ hưu, nguy cơ vỡ Quỹ BHXH sẽ rất lớn, 20/2/2013

[11] Báo Đất Việt, Có thể vỡ Quỹ bảo hiểm xã hội sớm hơn dự báo, 25/4/2013

[12] Báo Đất Việt, Phó Tổng giám đốc BHXHVN: Vỡ Quỹ, Chính phủ phải bù, 24/4/2013

[13] Vietnamnet, Lương hưu thêm 10 triệu đồng mỗi tháng, 29/4/2013

[14] Joseph S. Nye, “What China and Russia Don’t Get About Soft Power”. Foreigh Policy, 29/4/2013. Nội dung tiếng Việt có tham khảo bản dịch của Phạm Nguyên Trường

* Ý kiến bạn đọc
* Tin đáng chú ý
* Các tin liên quan